Diese Präsentation wurde erfolgreich gemeldet.
Wir verwenden Ihre LinkedIn Profilangaben und Informationen zu Ihren Aktivitäten, um Anzeigen zu personalisieren und Ihnen relevantere Inhalte anzuzeigen. Sie können Ihre Anzeigeneinstellungen jederzeit ändern.
Hợp hạch lạnh
Phillip Kanarev
E-mail: kanphil@mail.kuban.ru
Hợp hạch lạnh là giả thiết đầu tiên cho nguồn năng lượng “dư t...
Hokkaido, Nhật Bản. Ông đã phân tích thành phần hóa học của mẫu điện cực bằng
phương pháp Phổ hạt nhân (EDX). Kết quả phân...
Hình 2. Mô hình nguyên tử các nguyên tố Cr, Fe, Cu.
Khi hạt nhân nguyên tử sắt (hình 2b) chuyển hóa thành Crom (hình 2a) s...
a) K (19,20) b) O (8,8) c) Si (14,14)
Hình 3. Mô hình hạt nhân Kali, Oxi và Silic
Chúng ta cũng cần lưu ý đến một thực tế,...
a) Na (11,12) b) Al (13,14) c) Cl (17,18) d) Ca (20,20)
Hình 4. Mô hình hạt nhân nguyên tử Natri, Nhôm, Clo và Canxi
Khi k...
Ohmori và Mizumo đã tìm thây phát xạ neutron trong quá trình điện phân
plasma dung dịch nước và cho rằng, nguồn phát xạ ne...
6. Edmund Storms. A Critical Evalution of the Pons-Fleschmann Effect: Part 1.
Infinite Energy Vol. 6, Issue 31, 2000. Pag....
Nächste SlideShare
Wird geladen in …5
×

Hợp hạch lạnh

537 Aufrufe

Veröffentlicht am

Mô tả phản ứng hợp hạch lạnh xảy ra trong quá trình điện phân plasma dung dịch nước

Veröffentlicht in: Bildung
  • Als Erste(r) kommentieren

Hợp hạch lạnh

  1. 1. Hợp hạch lạnh Phillip Kanarev E-mail: kanphil@mail.kuban.ru Hợp hạch lạnh là giả thiết đầu tiên cho nguồn năng lượng “dư thừa” quan sát được trong quá trình điện phân nước nặng. Giả thiết này được đưa ra bởi Pleishman và Poins năm 1989. Cho đến nay đã có hàng ngàn thí nghiệm được lặp lại thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy khả năng trích xuất nhiệt năng “dư thừa” từ nước. Hình 1. Sơ đồ lò phản ứng điện phân plasma, bằng sáng chế 2210630. 1-nắp đậy; 2-vỏ; 7-catod; 11-anod; 13-bộ định lượng dung dịch; 16-tản nhiệt; 23-ống thoát khí. Tiếp tục giả thuyết này, tác giả đã thực hiện hàng loạt các thí nghiệm và phân tích kết quả thí nghiệm với thống kê các nguyên tố hóa học thu được. Để kiểm tra giả thuyết này, tác giả đã sử dụng hai điện cực bằng sắt, điện cực thứ nhất có khối lượng 18,1g, điện cực thứ hai có khối lượng 18,15g. Điện cực thứ nhất làm việc 10h trong dung dịch KOH còn điện cực thứ hai trong dung dịch NaOH. Khối lượng điện cực làm việc với KOH không thay đổi, còn khối lượng điện cực thứ hai giảm 0,02g. Lò phản ứng plasma làm việc ở điều kiện điện áp 220V và dòng điện 0,5-1A. (hình 1). Cùng thực hiện thí nghiệm này với tác giả còn có Tadahiko Mizuno, thuộc phòng thí nghiệm Nuclear Material System, Faculty of Engineering, Đại học
  2. 2. Hokkaido, Nhật Bản. Ông đã phân tích thành phần hóa học của mẫu điện cực bằng phương pháp Phổ hạt nhân (EDX). Kết quả phân tích được trình bày trên bảng 1. Bảng 1. Thành phần nguyên tố hóa học trên bề mặt điện cực với dung dịch điện phân là KOH. Nguyên tố Si K Cr Fe Cu % 0,94 4,50 1,90 92,00 0,45 Bảng 2. Thành phần nguyên tố hóa học trên bề mặt điện cực với dung dịch điện phân NaOH. Ng.t ố Al Si Cl K Ca Cr Fe Cu % 1,1 0 0,5 5 0,2 0 0,6 0 0,4 0 1,6 0 94,0 0 0,65 Chúng ta sẽ phân tích sợ bộ kết quả thu được sử dụng các mô hình hạt nhân nguyên tử [1]. Vì vật liệu làm catod là sắt nên hạt nhân sắt là bia của nguyên tử kim loại kiềm Kali. Sự chuyển hóa hạt nhân nguyên tử sắt sẽ dẫn tới sự hình thành hạt nhân nguyên tử Crôm và hạt nhân nguyên tử Đồng (hình 2). a) Cr (24,28) b) Fe (26,28) c) Cu (29,34) 2
  3. 3. Hình 2. Mô hình nguyên tử các nguyên tố Cr, Fe, Cu. Khi hạt nhân nguyên tử sắt (hình 2b) chuyển hóa thành Crom (hình 2a) sẽ giải phóng 2 proton và 2 notron, từ đó có thể tạo thành hai nguyên tử Đơ te ri hay một nguyên tử Heli. Nếu notron bị chuyển hóa thành proton sẽ tạo thành 4 nguyên tử Hidro. Dễ thấy rằng hạt nhân nguyên tử sắt phải bị mất hai proton bên trên và hai notron để có thể chuyển hóa thành hạt nhân nguyên tử Crôm. Để có thể chuyển hóa thành hạt nhân nguyên tử Đồng, hạt nhân Sắt đòi hỏi phải nhận thêm 3 proton và 6 neutron, tổng cộng 9 nuclon. Trên bề mặt catod số lượng nguyên tử Crôm nhiều gấp 4 lần số nguyên tử đồng, do đó trong dung dịch chắc chắn sẽ có những proton và neutron thừa và chúng ta có thể xác định một cách gần đúng lượng proton và neutron này. Giả sử rằng, 4 hạt nhân nguyên tử trở thành hạt nhân nguyên tử Crôm, như vậy tổng số proton và neutron (nuclon) là 16 nuclon. Bởi vì cứ mỗi 4 nguyên tử Crom tạo ra sẽ có 1 nguyên tử Đồng, như vậy cứ mỗi nguyên tử Đồng cần 9 nuclon, 7 nuclon sẽ là nuclon tự do. Bây giờ ta sẽ xem xét sản phẩm tạo ra khi phá hủy hạt nhân nguyên tử Kali. Kali nằm ở nhóm đầu tiên chu kì 4 trong Bảng tuần hoàn. Hạt nhân Kali chưa 19 proton và 20 neutron (hình 3a). Trên hình 3a ta có thể thấy một điểm liên kết yếu trong hạt nhân nguyên tử nằm ở trung tâm hạt nhân. Khi xảy ra sử chuyển hóa nguyên tố, hạt nhân nguyên tử Kali có thể bị phân tách thành Ôxi và đồng vị cùng với hạt nhân nguyên tử Silic (hình 3c). Phân tích cấu trúc hạt nhân nguyên tử Kali cho thấy, khả năng rất cao đó chính là nguồn tạo ra nguyên tử Si (hình 3b) trên bề mặt catod. Dễ thấy rằng, khi phá hủy một hạt nhân nguyên tử K tạo ra một hạt nhân nguyên tử Si cùng với 5 proton và 6 neutron tự do tức 11 nuclon. Như vậy, sự chuyển hóa hạt nhân Sắt và Kali đã tạo ra proton và neutron tự do. Bởi vì proton không thể tồn tại riêng biệt ở trạng thái tự do nên cuối cùng sẽ bắt electron để tạo thành nguyên tử Hidro. Nếu như proton liên kết với neutron, sau khi phá hủy hạt nhân Sắt và Kali, có thể sẽ tạo thành Đơ te ri, Triti và Heli. 3
  4. 4. a) K (19,20) b) O (8,8) c) Si (14,14) Hình 3. Mô hình hạt nhân Kali, Oxi và Silic Chúng ta cũng cần lưu ý đến một thực tế, đó là trong vật liệu của catod không chứa nguyên tử Natri. Ở catod sử dụng điện phân dung dịch KOH (bảng 1) hiển nhiên là sẽ có mặt Kali. Nhưng tại sao Natri không được tìm thấy ở catod điện phân dung dịch NaOH (bảng 2)? Câu trả lời duy nhất là: Hạt nhân Natri bị phá hủy hoàn toàn trong quá trình điện phân Plasma. Sự có mặt của Kali trên bề mặt catod điện phân dung dịch NaOH có thể giải thích do lò phản ứng không được rửa sạch sau khi điện phân dung dịch KOH. Vì trong quá trình phá hủy hạt nhân nguyên tử Natri xuất hiện các proton và neutron nên một số hạt nhân của nguyên tố này cuối cùng sẽ bị chuyển hóa thành hạt nhân nguyên tử Nhôm (hình 4b), Clo (hình 4c) và Canxi (hình 4d). Hiển nhiên là nếu chúng ta biết được số lượng nguyên tử Sắt, Natri, Kali, và biết chính xác thành phần khí sinh ra sau quá trình điện phân plasma thì chúng ta có thể xác định được hạt nhân tạo thành từ các nuclon tự do. Bây giờ chúng ta chỉ có thể giả thiết rằng phần lớn các hạt nhân đó là proton hay hạt nhân Hidro. Sự vắng mặt của nguyên tố Natri trên bề mặt catod là một dấu hiệu rõ ràng của sự phá hủy hạt nhân nguyên tố này trong quá trình điện phân plasma. 4
  5. 5. a) Na (11,12) b) Al (13,14) c) Cl (17,18) d) Ca (20,20) Hình 4. Mô hình hạt nhân nguyên tử Natri, Nhôm, Clo và Canxi Khi khảo sát mô hình electron chúng ta đã biết rằng electron tồn tại ở trạng thái tự do chỉ trong điều kiện khối lượng điện từ ngặt nghèo [xem bài viết về mô hình electron của Kanarev]. Khi liên kết với hạt nhân nguyên tử, electron sẽ phát ra một phần năng lượng dưới dạng bức xạ photon do đó khối lượng điện từ bị giảm xuống. Tuy nhiên độ ổn định trạng thái của electron lúc này không bị giảm xuống, vì năng lượng phát xạ thông qua photon bằng với năng lượng liên kết giữa electron và hạt nhân nguyên tử. Khi nhiệt độ môi trường tăng lên, electron bắt đầu hấp thụ các photon nhiệt và chuyển đến các mức năng lượng cao hơn, năng lượng liên kết bị yếu đi. Ở trạng thái tự do, electron lại một lần nữa tham gia liên kết với nguyên tử chỉ khi nhiệt độ môi trường giảm xuống. Để giảm nhiệt độ, electron sẽ phát xạ các photon và chuyển xuống các mức năng lượng thấp hơn. Nếu như electron có sẵn ở trạng thái tự do do kết quả của tương tác ngẫu nhiên lên nguyên tử và ở môi trường xung quanh không có các photon để khôi phục khối lượng của electron, ngay lập tức electron sẽ hấp thụ ether từ môi trường xung quanh và phục hồi các hằng số: khối lượng, điện tích, moment từ, spin và đường kính quay. Electron chỉ đạt được trạng thái tự do bền sau khi các hằng số được khôi phục.[1] Như vậy, nếu như sự thay đổi giữa trạng thái tự do và liên kết với nguyên tử là kết quả của tương tác ngẫu nhiên lên nguyên tử, mỗi lần biến đổi như vậy eletron sẽ phục hồi khối lượng điện từ của mình nhờ vào quá trình hấp thụ ether. Có nghĩa là vai trò thực tế của electron là chuyển hóa năng lượng của ether thành nhiệt năng [theo Marcus Reid thì đó là sự chuyển hóa năng lượng của chân không lượng tử thành năng lượng khả kiến] 5
  6. 6. Ohmori và Mizumo đã tìm thây phát xạ neutron trong quá trình điện phân plasma dung dịch nước và cho rằng, nguồn phát xạ neutron không chỉ từ quá trình phân rã hạt nhân mà còn có thể từ quá trình bắt electron của các proton tự do[3]. Trong quá trình điện phân plasma dung dịch nước sẽ tạo ra plasma hidro, các proton có thể tồn tại ở trạng thái tự do và có khả năng xảy ra quá trình bắt electron tự do. Chênh lệch khối lượng giữa neutron và proton gấp 2,51 lần khối lượng electron, hơn nữa số electron hấp thụ phải là số nguyên do đó chắc chắn phải là 3 electron. Một vấn đề nảy sinh: Như vậy 3-2,51=0,49 electron còn lại biến đi đâu? Vật lý hiện đại đưa ra câu trả lời hết sức đơn giản: tạo ra neutrino. Ngoài ra còn có một số khả năng tạo thành quang tử gamma và tia Rơngen tuy nhiên các quang tử này không phải quang tử nhiệt, do đó nó sẽ không tạo ra nhiệt năng dư thừa trong quá trình điện phân plasma dung dịch nước. Một khả năng nữa đó là các nguyên tử kim loại kiềm khi va chạm với các nguyên tử kim loại làm catod bị phá hủy hoàn toàn cũng như phá hủy nguyên tử kim loại làm catod. Khái niệm “hoàn toàn” có thể được hiểu là cả nguyên tử và hat nhân đều bị phá hủy. Trong trường hợp này, các proton từ hạt nhân bị phá hủy sẽ bắt electron và tạo thành nguyên tử Hidro. Quá trình tổng hợp nguyên tử nước sẽ tạo thành năng lượng dư thừa trong phản ứng. Như vậy khi điện phân plasma dung dịch nước sẽ xảy ra quá trình biến đổi hạt nhân nguyên tử kim loại kiềm và hạt nhân nguyên tử kim loại làm catod. Kết luận Quá trình điện phân plasma dung dịch nước mở ra một triển vọng mới cho các nghiên cứu vật chất ở cấp độ hạt nhân, nguyên tử và phân tử. Tài liệu tham khảo 1. Канарёв Ф.М. Начала физхимии микромира. Третье издание. http://Kanarev.innoplaza.net 2. Mallove E. Do-lt-Yourself Cold Fusion Experiment Boiled Lightning-from Japan, with Love by Eugene Mallove. Infinite Energy. 1988 Volume 4, Issue 20, 1989, p. 9-13. 3. Ohmori and Mizuno. Strong Excess Energy Evolution, New Element Production, and Electromagnetic Wave and/or Neutron Emission in Light Water Electrolysis with a Tungsten Catode. Infinite Energy. 1998. V. 4., Issue 20, p.14- 17. 4. Херольд Л. Фокс. Холодный ядерный синтез: сущность, проблемы, влияние на мир. Взгляд из США. Производственная группа "СВИТЭКС" М:. 1993, 180 с. 5. ICCF - 7 ACCEPTED ABSTRACTS. Infinite Energy. V 4, Issue 20, p. 59...69. 6
  7. 7. 6. Edmund Storms. A Critical Evalution of the Pons-Fleschmann Effect: Part 1. Infinite Energy Vol. 6, Issue 31, 2000. Pag. 10-20. 7. Канарёв Ф.М., Тадахико Мизуно. Холодный синтез при плазменном электролизе воды. Новая энергетика. №1(10) , 2003. С5-10. 8. Kanarev Ph.M. Energy Balance of Fusion Processes of Molecules of Oxygen, Hydrogen and Water. http://Kanarev.energy.innoplaza.net 9. Kanarev Ph.M., Tlishev A.I., Bebko D.A. Generators of Global (Clean) Energy. http://Kanarev.energygenerators.innoplaza.net 10. Канарёв Ф.М., Тлишев А.И., Бебко Д.А. Генераторы глобальной (чистой) энергии. Краснодар. 2003. 21 стр. 11. Канарёв Ф.М., Подобедов В.В., Корнеев Д.В., Тлишев А.И., Бебко Д.А. Устройство для получения газовой смеси и трансмутации ядер атомов химических элементов. Патент № 2210630. 7

×