Diese Präsentation wurde erfolgreich gemeldet.
Die SlideShare-Präsentation wird heruntergeladen. ×

Luận văn: Quản lý về y tế cấp xã tại huyện Ba Vì, Hà Nội, HAY

Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ VÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y TẾ CẤP ...
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là một công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn này là xác th...
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Học viện hành chính Quốc gia. Để
hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được ...
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige

Hier ansehen

1 von 95 Anzeige

Luận văn: Quản lý về y tế cấp xã tại huyện Ba Vì, Hà Nội, HAY

Nhận viết luận văn Đại học , thạc sĩ - Zalo: 0917.193.864
Tham khảo bảng giá dịch vụ viết bài tại: vietbaocaothuctap.net

Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí công với đề tài: Quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, cho các bạn làm luận văn tham khảo

Nhận viết luận văn Đại học , thạc sĩ - Zalo: 0917.193.864
Tham khảo bảng giá dịch vụ viết bài tại: vietbaocaothuctap.net

Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí công với đề tài: Quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, cho các bạn làm luận văn tham khảo

Anzeige
Anzeige

Weitere Verwandte Inhalte

Diashows für Sie (20)

Ähnlich wie Luận văn: Quản lý về y tế cấp xã tại huyện Ba Vì, Hà Nội, HAY (20)

Anzeige

Weitere von Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0909232620 (20)

Aktuellste (20)

Anzeige

Luận văn: Quản lý về y tế cấp xã tại huyện Ba Vì, Hà Nội, HAY

  1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………/………… BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ VÂN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y TẾ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành : Quản lý công Mã số: 60 34 04 03 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC TS. Nguyễn Thị Hƣờng HÀ NỘI - NĂM 2016
  2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là một công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn này là xác thực và có nguồn gốc rõ ràng. NGUYỄN THỊ VÂN
  3. 3. LỜI CẢM ƠN Luận văn này được thực hiện tại Học viện hành chính Quốc gia. Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Hường đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình. Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua. Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia, Trung tâm Y tế huyện Ba Vì đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình. Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2016 Nguyễn Thị Vân
  4. 4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm BHYT Bảo hiểm y tế CCVC Công chức viên chức CNTT Công nghệ thông tin CS&BVSKND Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân DS & KHHGĐ Dân số và kế hoạch hóa gia đình HĐND Hội đồng nhân dân NSNN Ngân sách Nhà nước TYT Trạm y tế UBND Ủy ban nhân dân XPVPHC Xử phạt vi phạm hành chính
  5. 5. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚCVỀ Y TẾ ........... 7 1.1. Một số khái niệm liên quan đến y tế...................................................... 7 1.2. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế; quan điểm, định hướng trong quản lý nhà nước về y tế; Phương thức quản lý nhà nước về y tế. ...12 1.3. Nội dung quản lý nhà nước về y tế .....................................................19 1.4. Những yếu tố tác động tới quản lý nhà nước về y tế ...........................32 Kết luận Chƣơng 1........................................................................................36 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ ................................................................37 2.1. Thực trạng hoạt động y tế huyện Ba Vì...............................................37 2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì42 2.3. Nguyên nhân những hạn chế, tồn tại của hoạt động quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì. ..............................................................66 Kết luận Chƣơng 2........................................................................................69 Chương 3:GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ......................70 NHÀ NƢỚC VỀ Y TẾ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ ........70 3.1. Phương hướng, mục tiêu quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì.................................................................................................70 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện Ba Vì.................................................................................................72 Kết luận Chƣơng 3........................................................................................84 KẾT LUẬN....................................................................................................85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................87
  6. 6. DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ Bảng 2.1. Số lƣợng văn bản ban hành nhằm triển khai các văn bản của Sở Y tế để quản lý nhà nƣớc về Y tế qua các năm 2010 -2015. ................43 Bảng 2.2. Tổng hợp các Trạm Y tế cấp xã, thị trấn đạt chuẩn y tế quốc gia qua các giai đoạn.....................................................................................47 Bảng 2.3: Đầu tƣ xây dựng cơ bản+ trang thiết bị ....................................48 Bảng 2.4: Đầu tƣ mua sắm trang thiết bị....................................................49 Bảng 2.5 . Mua sắm thuốc, vật tƣ y tế .........................................................49 Bảng 2.6. Đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực. (Số tiền hỗ trợ cán bộ tham dự đào tạo dài hạn, ngắn hạn nâng cao trình độ chuyên môn qua các năm)................................................................................................................50 Bảng 2.7. Danh sách các xã, Trạm Y tế trên địa bàn huyện Ba Vì. .........54 Bảng 2.8. Cơ cấu nhân lực theo chức danh nghề nghiệp tại các trạm Y tế cấp xã qua các năm từ 2010 -2015...............................................................56 Bảng2.9. Trình độ cán bộ Y tế phân theo bằng cấp...................................57 Bảng 2.10. Số lƣợng cán bộ tham dự các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ qua các năm 2010 -2015.......................................58 Bảng 2.11: Biên chế năm 2015 theo Thông tƣ liên tịch số: 08/2007/TTLT- BYT-BNV.......................................................................................................59 Bảng 2.12. Đặc điểm đào tạo của Bác sĩ tuyến xã (tiến hành nghiên cứu trên 24 bác sĩ tuyến xã).................................................................................63 Bảng 2.13. Số lƣợng tập thể, cá nhân đƣợc khen thƣởng các cấp qua các năm 2010 -2015..............................................................................................65 Bảng 2.14. Số lƣợng vi phạm bị xử lý qua các năm 2010 -2015................65
  7. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn Trong những năm vừa qua công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã đạt được một số thành tựu nhất định. Hệ thống y tế từ trung ương tới cơ sở được củng cố phát triển và từng bước được nâng lên rõ rệt. Nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế hoặc đẩy lùi như SAR, dịch cúm, dại, Ebola.... Các chỉ tiêu về sức khỏe tại nước ta đã đạt được mục tiêu đề ra như: Tuổi thọ bình quân tăng, tỷ lệ trẻ mới sinh có trọng lượng dưới 2,5 kg giảm, thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, tiến tới loại trừ một số bệnh khác.... Và để đạt được những thành tựu trên đó là công sức của cả hệ thống y tế nói chung và không thể bỏ qua sự đóng góp của mạng lưới y tế cơ sở. Một bộ phận đáng chú ý của mạng lưới y tế cơ sở là y tế cấp xã, đây là bộ phận không thể thiếu của mạng lưới y tế cơ sở. Đặc biệt y tế cấp xã còn là “cứu cánh” cho những người dân ở vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn bởi chi phí y tế hợp lý, các khoản chi gián tiếp thấp (như chi phí đi lại, ăn ở, người nhà đi theo chăm sóc…), có thể phát hiện và quản lý được bệnh tật sớm. Và trong tất cả hoạt động của lĩnh vực y tế, việc đáp ứng điều trị, hạn chế lây lan dịch bệnh, thay đổi hành vi của người dân trong phòng ngừa bệnh tật... không đơn thuần chỉ do tác động của các can thiệp chuyên môn y tế, mà còn do tác động can thiệp vào các yếu tố khác: tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, thói quen lối sống, điều kiện kinh tế...Vì vậy y tế cấp xã đóng vai trò quan trọng và đội ngũ cán bộ y tế cấp xã chính là những người trực tiếp, gần dân, hiểu dân nhất khi làm nhiệm vụ tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường, kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, sơ cứu ban đầu và chăm sóc các bệnh thông thường đồng thời trực tiếp thực hiện chuyên môn khám chữa bệnh, và các biện pháp phòng bệnh tại cơ sở góp phần giảm tải cho y tế tuyến trên.
  8. 8. 2 Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Với tổng diện tích 424km2 , dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng. Phía đông giáp thị xã Sơn Tây, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ đô Hà Nội tháng 8 năm 2008. Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng. Hệ thống y tế địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực qua các năm nhưng hoạt động các tuyến y tế còn nhiều hạn chế chưa phát huy hết nội lực sẵn có. Mặt khác là huyện miền núi địa bàn rộng, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí địa phương còn thấp, vẫn còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, hiểu biết của người dân về chăm sóc sức khoẻ vẫn còn hạn chế trong khi diễn biến các dịch, bệnh ngày càng phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động y tế nói riêng và hoạt động quản lý nhà nước về y tế nói chung. Bất cập trong mô hình quản lý y tế cấp xã hiện nay hiện đang tồn tại song song hai chủ thể quản lý là Phòng Y tế và Trung tâm y tế dễ dẫn đến chồng chéo trong quản lý. Không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính nên công tác tham mưu còn chậm, trùng lắp. Phòng Y tế không trực tiếp quản lý các trạm y tế xã, thị trấn nên việc triển khai công tác của phòng Y tế rất khó khăn vì “có tướng nhưng không có quân”, không chỉ đạo được trạm Y tế cũng như các đơn vị cấp huyện dẫn đến hiệu quả các hoạt động quản lý nhà nước đối với y tế nói chung và y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì của cơ quan quản lý nhà nước còn thấp, Phòng Y tế chưa phát huy hết vai trò của mình. Trong khi đó Trạm Y tế các xã, thị trấn trực tiếp chịu sự quản lý của Trung tâm Y tế huyện, đây là đơn vị sự nghiệp công lập không có chức năng quản lý
  9. 9. 3 nhà nước. Do vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý y tế cấp xã thì cần phải tìm hiểu các quy định của nhà nước, cũng như tình hình thực tế kết quả hoạt động quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện Ba Vì, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách khoa học, đầy đủ về quản lý đối tượng này. Vì lý do đó, cá nhân tôi lựa chọn nghiên cứu quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội làm đề tài nghiên cứu trong luận văn của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về y tế nói chung nhưng hệ thống các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước về y tế cấp xã vẫn còn chưa nhiều. Đã có nhiều luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu một số khía cạnh của y tế cấp xã ở những góc độ và phạm vi khác nhau của một số tác giả như: Từ góc độ pháp luật có công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay” luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Nguyễn Huy Quang năm 2003. Luận văn đã đưa ra lý luận của hoạt động quản lý nhà nước về y tế dựa trên các quy định của pháp luật đồng thời chỉ ra được thực trạng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế. Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công – Nguyễn Xuân Chiến, năm 2006 nghiên cứu về phân cấp quản lý nhà nước về Y tế. Luận văn đã hệ thống hóa được các quy định về phân cấp quản lý nhà nước về y tế đồng thời phân tích thực trạng của việc phân cấp quản lý trong thời kỳ đổi mới và đưa ra các giải pháp kiện toàn cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về y tế, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý với vai trò chủ quản chỉ đạo điều hành của cơ quan nhà nước các cấp nói riêng chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng hiện nay.
  10. 10. 4 Tác giả Phan Văn Tiến cũng đã đóng góp công trình nghiên cứu “Kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức của mạng lưới y tế cơ sở” luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, năm 2006. Luận văn đã hệ thống hóa cấc văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, nhà nước và Chính phủ liên quan đến việc đổi mới kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức năng của mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam tại chương 1, tại chương 2 tác giả đã khái quát mô tả thực trạng của mạng lưới y tế cơ sở, phân tích những khó khăn, bất cấp của mạng lưới y tế cơ sở từ đó đưa ra các giải pháp nhằm kiện toàn cơ cấu tổ chức của mạng lưới y tế cơ sở được trình bày tại chương 3. Từ góc độ thu hút nguồn lao động có chất lượng về hoạt động tại tuyến xã có công trình nghiên cứu “Các giải pháp tăng cường bác sĩ về làm việc tại tuyến xã” – luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công – Nguyễn Thị Phương Hạnh, năm 2009. Xem xét từ khía cạnh nguồn nhân lực có công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước về chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội” luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Nguyễn Tuấn Anh, năm 2011. Ngoài ra từ nội dung xã hội hóa hoạt động y tế có công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế do thành phố Hà Nội quản lý” – luận văn thạc sĩ quản lý công – Nguyễn Thị La, năm 2014. Các đề tài đề cập trên đã nghiên cứu, tìm hiểu quản lý nhà nước về y tế ở các góc độ, cấp độ khác nhau như góc độ hoàn thiện thể chế, góc độ tổ chức bộ máy, góc độ quản lý và phát triển nguồn nhân lực... Ngoài các đề tài đề cập trên còn có rất nhiều đề tài khác mà tác giả với thời gian và điều kiện có hạn chưa tiếp cận được, cùng các bài viết đăng trên các báo, tạp chí của trung ương và địa phương về quản lý nhà nước về y tế và các vấn đề liên quan. Tuy nhiên tác giả nhận thấy chưa có công trình nào thực sự đi sâu vào vấn đề quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã. Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội ” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
  11. 11. 5 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích: Mục đích của luận văn là nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước để tiếp tục nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ: Tìm hiểu tổng quan lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về y tế; Xác định thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước về y tế cấp xã thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về trạm y tế xã, thị trấn, bản trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nội dung nghiên cứu: Quản lý nhà nước về y tế cấp xã Phạm vi không gian: toàn bộ 31/31 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian: Từ 2010 đến nay 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp luận khoa học hành chính. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp tổng hợp phân tích; đặc biệt sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn là kết quả nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về y tế, kết quả quá trình nghiên cứu, đánh giá khoa học về mô hình quản lý y tế trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Từ đó thấy được cách thức quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì nói riêng.
  12. 12. 6 Xác định thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã trên địa bàn huyện từ đó đưa ra được các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã. Là tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo trong việc chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước về y tế cấp xã. Đồng thời luận văn cũng bổ sung tài liệu cho cán bộ, sinh viên trong công tác nghiên cứu và học tập. 7. Kết cấu của luận văn Gồm có 03 Chương: Chương 1: Lý luận chung quản lý nhà nước về y tế . Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì. KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  13. 13. 7 Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚCVỀ Y TẾ 1.1. Một số khái niệm liên quan đến y tế 1.1.1. Khái niệm về y tế Theo nghĩa rộng, y tế là lĩnh vực hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân từ hoạt động vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật đến việc khám và điều trị bệnh. Theo nghĩa hẹp, y tế là những hoạt động phòng chống và điều trị bệnh tật cho nhân dân. Hoạt động phòng chống bệnh tật rất rộng gồm công tác vệ sinh môi trường sống và làm việc liên quan đến gây bệnh, tiêm chủng mở rộng, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, thể dục dưỡng sinh. Hoạt động khám bệnh và điều trị bệnh cho nhân dân là hoạt động cơ bản nhất của ngành y tế. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân loại các hoạt động y tế. Trong đó có căn cứ vào khu vực thì chia ra khu vực y tế chuyên sâu là các bệnh viện trung ương và các bệnh viện lớn đầu ngành của một số tỉnh – thành lớn nơi tập trung nghiên cứu và khu vực y tế phổ cập là hệ thống y tế từ tỉnh, huyện, xã đến thôn bản nơi trực tiếp khám chữa bệnh cho nhân dân tại địa phương, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân bao gồm các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế cấp xã, phường,thị trấn, nhân viên y tế thôn, bản.[11] Mạng lưới y tế cơ sở (gồm y tế thôn, bản, xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã) là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịch sớm, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khỏe.[23]
  14. 14. 8 Mạng lưới y tế bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp nhất góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật tự an toàn xã hội và tạo niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Y tế cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là y tế cấp xã) là một bộ phận của y tế cơ sở, là đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng, nhằm thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân: đầu tư ít, phạm vi bao phủ rộng, hiệu quả lớn. Có khoảng 80% các loại bệnh tật thông thường có thể điều trị hiệu quả tại tuyến xã. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Y tế cấp xã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các chương trình y tế quốc gia ở cộng đồng, hạn chế các bệnh truyền nhiễm, ngăn ngừa dịch bệnh, đưa các dịch vụ dân số - kế hoạch hóa gia đình đến từng gia đình, từng người dân. Đóng góp không nhỏ trong các thành tựu về chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nước ta. Theo Nghị định số 01/1998/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03/01/1998 quy định về hệ thống tổ chức Y tế địa phương thì trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và UBND xã, phường, thị trần thực hiện các nhiệm vụ được giao về công tác y tế trên địa bàn. Trạm Y tế cấp xã, phường, thị trấn chịu sự quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn của Giám đốc Trung tâm Y tế huyện về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh phí và nhân lực y tế; chịu sự quản lý, chỉ đạo của UBND cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch phát triển y tế để trình cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch đó sau khi đã được phê duyệt; phối hợp với các ban ngành, đoàn thể trong xã tham gia vào các hoạt động nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Theo Nghị định số 117/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2014 quy định về y tế cấp xã, phường, thị, trấn và Thông tư số 33/2015/TT-BYT
  15. 15. 9 của Bộ Y tế ngày 27/10/2015 về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn thì: Tổ chức y tế cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là trạm y tế cấp xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã (sau đây gọi chung là Trung tâm y tế huyện) được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã. * Nhiệm vụ của trạm y tế cấp xã: Thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh, phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung ứng thuốc thiết yếu, quản lý sức khỏe cộng đồng, tuyền thông giáo dục sức khỏe theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật. Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản. Phối hợp cơ quan liên quan thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn. Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến dức khỏe nhân dân trên địa bàn. Là đơn vị thường trực Ban Chăm sóc sức khỏe cấp xã về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và Chủ tịch UBND cấp xã giao.[15] 1.1.2. Khái niệm về sức khỏe Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật”. Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, mỗi gia
  16. 16. 10 đình và toàn xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển cường thịnh của mỗi gia đình và mỗi quốc gia. Sức khỏe còn là quyền cơ bản và quan trọng của con người. Để con người có thể đạt được mức độ sức khỏe tốt nhất luôn là mục tiêu xã hội quan trọng của mỗi quốc gia và của toàn thế giới. Và để thực hiện được mục tiêu quan trọng này không chỉ có hành động đơn thuần của ngành y tế mà cần có sự tham gia góp sức hành động của nhiều tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội khác. Điều này được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ quan điểm “Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành Y tế đóng vai trò nòng cốt về chuyên môn, kỹ thuật”[3] 1.1.3. Khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu Tuyên bố Alma-Ata đưa ra khái niệm chăm sóc sức khỏe ban đầu là các chăm sóc sức khỏe thiết yếu dựa trên những phương pháp và những kỹ thuật vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn và được xã hội chấp nhận. Những phương pháp và kỹ thuật này có mức chi phí thích hợp mà công đồng, quốc gia có thể chấp nhận được và được mọi cá nhân, mọi gia đình trong cộng đồng sử dụng một các rộng rãi thông qua việc tham gia đầy đủ với tinh thần tự lực và quyết định của mỗi cá nhân, gia đình trong mỗi giai đoàn phát triển của họ. Có thể nói chăm sóc sức khỏe ban đầu chính là: - Những chăm sóc thiết yếu, những chăm sóc cơ bản, đầu tiên cho sức khỏe; - Những chăm sóc này là những kỹ thuật thực hành có cơ sở khoa học; - Những chăm sóc có thể tới được mọi người dân, mọi gia đình và tới được nơi họ đang sinh sống. Đây là mức độ đầu tiên, giai đoạn đầu tiên của quá trình chăm sóc sức khỏe liên tục cho mọi người. - Những chăm sóc mà mọi người có thể chấp nhận được và tích cực tham gia hưởng ứng;
  17. 17. 11 - Những chăm sóc phù hợp với nền kinh tế của nhân dân, của đất nước. Hay nói cách khác chăm sóc sức khỏe ban đầu yêu cầu và đề cao tính tực lực của cộng đồng, của mỗi cá nhân trong việc tham gia vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát các hoạt động chăm sóc sức khỏe trong việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có của địa phương và của quốc gia. Như vậy nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu sẽ không hoàn toàn giống nhau ở các nước trong cùng một thời điểm và ngay trong một nước ở các vùng và các thời điểm khác nhau. Nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu dược thay đổi theo thời gian hoặc theo địa lý để phù hợp với tình hình sức khỏe, tình hình bệnh tật, trình độ văn hóa của nhân dân cũng như hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong cùng thời điểm khác nhau. Ở nước ta hiện nay chăm sóc sức khỏe ban đầu tập chung vào giải quyết các vấn đề sức khỏe chủ yếu của cộng đồng bằng viện cung cấp các dịch vụ nhằm dự phòng, điều trị, phục hồi chức năng và tăng cường sức khỏe cho cộng đồng gồm những 10 nội dung chủ yếu trong đó 8 nội dung theo Tuyên ngôn Alma Ata và bổ sung thêm 02 nội dung để phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam như sau: - Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, cụ thể là về các vấn đề sức khỏe ưu tiên của cộng đồng và các biện pháp dự phòng và khống chế chúng; - Cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng hợp lý; - Cung cấp đẩy đủ nước sạch và vệ sinh môi trường; - Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình; - Tiêm chủng mở rộng, phòng chống các bệnh nhiễm trùng chủ yếu; - Phòng ngừa và kiểm soát các bệnh dịch tại địa phương; - Điều trị hợp lý những bệnh và chấn thương thông thường; - Cung cấp đủ thuốc thiết yếu; - Quản lý sức khỏe (Nội dung bổ sung); - Kiện toàn mạng lưới y tế (Nội dung bổ sung);
  18. 18. 12 1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước về y tế Quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước (Chủ yếu là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp), mang tính quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên lĩnh vực y tế (lĩnh vực phòng bệnh, chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người) nhằm thỏa mãn những nhu cầu hợp pháp của con người về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, duy trì sự ổn định, và phát triển của xã hội về sức khỏe con người. Công tác quản lý nhà nước về y tế nói chung và quản lý nhà nước về y tế cấp xã nói riêng luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm xuất phát từ tầm quan trọng của ngành y tế và vai trò, vị trí của y tế cấp xã. Quản lý nhà nước về y tế cấp xã là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng các công cụ quản lý tác động lên y tế cấp xã nhằm đạt được mục tiêu đề ra. 1.2. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nƣớc về y tế; quan điểm, định hƣớng trong quản lý nhà nƣớc về y tế; Phƣơng thức quản lý nhà nƣớc về y tế. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế. Con người vừa là chủ thể của xã hội, vừa là mục tiêu phát triển của xã hội đồng thời con người cũng là nguồn lực quý nhất quyết định sự phát triển của mỗi địa phương và của đất nước. Con người là sự kết hợp giữa thể lực và trí tuệ. Hai yếu tố này gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên bản thân con người. Song giữa hai yếu tố đó thì thể lực của con người là cơ sở, là điều kiện để phát huy trí tuệ của họ tạo ra của cải vật chất đưa xã hội phát triển không ngừng. Hay có thể nói sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội vì vậy bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân vừa là hoạt động nhân đạo, vừa là hoạt động trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho
  19. 19. 13 sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát triển y tế là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và nhà nước ta. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm kiện toàn hệ thống y tế. Tháng 01/1993, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Nghị quyết đã nêu 7 giải pháp lớn, trong đó có giải pháp chấn chỉnh hệ thống chăm sóc sức khỏe, coi củng cố y tế cơ sở là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Qua những năm đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ tới ngành y tế, và ảnh hưởng đến các hoạt động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Sự ảnh hưởng này càng biểu hiện rõ khi chúng ta đem nhìn nhận trong sự đối lập giữa mục đích vì lợi nhuận của kinh tế thị trường và mục đích nhân đạo của ngành y tế; giữa giá các dịch vụ khám chữa bệnh với y đức của người thầy thuốc; giữa trách nhiệm và lợi ích của mỗi cán bộ y tế. Có thể thấy đây là những thách thức lớn đặt ra để giải quyết và cân bằng giữa yếu tố kinh tế và yếu tố nhân văn của bản chất xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang theo đuổi. Từ tất cả các khác biệt trên cho thấy việc quản lý nhà nước về y tế là việc làm cần thiết, có vai trò quan trọng để phát triển ngành y tế Việt Nam theo đúng định hướng của Đảng và nhà nước đề ra, đảm bảo tính công bằng trong cung cấp, tiếp cận các dịch vụ y tế và nâng cao hiệu quả và phát triển của các dịch vụ y tế phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và đất nước. Có thể thấy vai trò của Quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế thể hiện ở hai mặt sau: Một là đảm bảo sự công bằng trong xã hội: Xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu đảm bảo sức khỏe tốt cho tất cả mọi người ngày càng được quan tâm. Mặt khác người dân khỏe mạnh tạo ra một nguồn nhân lực có chất
  20. 20. 14 lượng, năng suất lao động cao, giảm các chi phí an sinh xã hội cho nhà nước. Vì vậy dịch vụ y tế phải được coi là một hàng hóa đặc biệt. Mọi người dân đều có quyền tiếp cận các dịch vụ tế và được hưởng một mức chăm sóc sức khỏe tối thiểu như nhau. Mặt khác nhiều loại dịch vụ y tế mang tính công cộng thuần túy, vì vậy sẽ không có tổ chức hay cá nhân nào có thể đảm nhiệm việc cung ứng các dịch vụ đó. Chỉ có nhà nước với quyền lực, nguồn lực của mình mới có thể đảm bảo cho mọi người dân được công bằng trong tiếp cận các dịch vu y tế, cũng nhưng chỉ có nhà nước mới quan tâm đầy đủ đến lợi ích của cả cộng đồng. Hai là, đảm bảo tính hiệu quả của việc cung cấp các dịch vụ y tế: xuất phát từ nguyên tắc hoạt động của y tế là không phải vì mục tiêu lợi nhuận nên để đảm bảo các cơ sở y tế không phát triển một cách tự phát thành các đơn vị kinh doanh chạy theo lợi nhuận, vì vậy phải có sự kiểm soát của nhà nước đối với các cơ sở y tế. Mặt khác các dịch vụ y tế là các dịch vụ không có tính so sánh, nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người vì vậy nhà nước cần đứng ra đảm bảo chất lượng, hạn chế tối thiểu các rủi ro từ dịch vụ y tế của các cơ sở y tế bằng những tiêu chuẩn, quy trình thống nhất chặt chặt chẽ giúp cho người dân an tâm khi tiếp cận các dịch vụ y tế. Quan điểm và định hướng trong quản lý nhà nước về y tế. Đổi mới và hoàn thiện hơn nữa hệ thống y tế Việt Nam theo hướng Công bằng - Hiệu quả - Phát triển, bảo đảm an sinh xã hội. Trong những năm tới kiên trì, nỗ lực nhằm đạt mục tiêu ngành y tế đề ra bảo đảm chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngang tầm tiên tiến khu vực (top 3), và quốc tế (top 20). Hội nhập với thế giới, thể hiện giảm nhập - tăng xuất, sớm đạt thăng bằng nhập - xuất, tiến tới có xuất siêu, trên cả 4 mũi giáp công: dịch vụ y; nhân lực cao y - dược; Dược liệu, Dược phẩm; Trang thiết bị y tế.
  21. 21. 15 Nhấn mạnh đầu tư cho y tế là một đầu tư phát triển, thưc hiện bản chất của chế độ. Nhà nước đảo đảm đầu tư cho y tế khoảng 50% trong tổng chi y tế. Thực hiện Nhà nước và Nhân dân cùng làm. Tăng mức đầu tư từ Ngân sách, đồng thời ra sức vận động tăng thu hút các nguồn lực xã hội, bao gồm tư nhân, phi lợi nhuận, thiện nguyện, cả trong và ngoài nước. Thực hiện chăm sóc sức khỏe toàn diện. Gắn phòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe. Tuy nhiên tập chung hơn nữa theo định hướng phòng bệnh hơn chữa bệnh, tập trung làm tốt hơn nữa công đoạn y tế dự phòng. Bảo đảm nguồn lực cho y tế dự phòng không ít hơn 30% tổng nguồn lực. Có tổ chức mạng lưới làm y tế dự phòng phủ khắp các huyện, xã. Bố trí đủ lực lượng mạnh cho các trọng điểm: cửa khẩu, tụ điểm thương mại, đầu mối giao thông, các vùng “trũng” nguy cơ ô nhiễm môi trường, tai nạn thương tích, chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, … Về công nghệ y tế: Phát triển y tế công nghệ cao, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế. Luôn coi trọng kết hợp Tây y – Đông y. Đến 2015, tất cả các tỉnh đều có Bệnh viện y học cổ truyền. Chỉ đạo kết hợp điều trị y học cổ truyền xuyên suốt đến tất cả các huyện, xã. Theo định hướng “Nam dược trị Nam nhân”, nhấn mạnh, coi trọng nghiên cứu khoa học y tế trong nước, cả y học hiện đại và y học cổ truyền. Đạt tới nhiều công nghệ, bài thuốc tiên tiến nhập khẩu được Việt Nam hoá; đồng thời có nhiều công nghệ, bài thuốc do sáng tạo Việt Nam, phục vụ hiệu quả phòng bệnh và chữa bệnh cho người Việt Nam. Thu hẹp khoảng cách chênh lệch hưởng thụ dịch vụ y tế giữa các vùng miền, nhóm dân cư. Tích cực tăng cường năng lực tuyến y tế cơ sở. Hạn chế, sớm tiến tới loại trừ các trường hợp chuyển tuyến không cần thiết. Triển khai mạnh mẽ thực hiện Luật Bảo hiểm y tế tạo thế cân đối bền vững của quỹ Bảo hiểm y tế. Thực hiện nâng cao chất lượng khám chữa
  22. 22. 16 bệnh, làm hài lòng bệnh nhân Bảo hiểm y tế. Tổ chức phong trào thi đua rộng khắp sớm đạt mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân tại mỗi đơn vị xã, huyện, tỉnh. Đưa việc khám chữa bệnh dùng thẻ Bảo hiểm y tế về rộng khắp các xã, làng, thôn, bản. Công tác DS - KHHGĐ: Phấn đấu giữ vững thành quả mức sinh thấp, (dưới mức sinh thay thế). Nhấn mạnh bảo đảm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, tránh thai an toàn, làm mẹ an toàn. Cân bằng giới để từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tăng cường phối kết hợp liên ngành để xử lý tốt những vấn đề di dân, buôn bán phụ nữ và trẻ em, hôn nhân với người nước ngoài; những vấn đề hôn nhân gia đình trong nước, dân tộc, tôn giáo,… Coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế, vừa có mũi nhọn chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phổ cập. Phấn đấu vào tốp 500 Đại học quốc tế: đến 2015 có ít nhất 1 Đại học Y - Dược; đến 2020 có ít nhất 2 Đại học Y - Dược. Bác sĩ làm việc tại xã: năm 2015 phủ được 80%; năm 2020 phủ khắp 100%. Phát triển công nghiệp dược, sản xuất trang thiết bị Y tế. Về công nghiệp dược: phấn đấu tổng giá trị sản xuất so với tổng giá trị thuôc sử dụng: năm 2015 đạt 70 - 75%; năm 2020 đạt 95 - 100%. Có những thương hiệu mạnh dược phẩm xuất khẩu. Thông qua xuất nhập khẩu, thể hiện vai trò công nghiệp và kinh doanh dược bảo đảm thoả mãn nhu cầu thiêu thụ trong nước, (theo các chỉ tiêu tỉ lệ vừa kể trên). Về sản xuất trang thiết bị y tế: phấn đấu thực hiện các mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế, ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2002/QĐ-TTg, ngày 04/10/2002 lui sau 10 năm đến năm 2015 đạt 40%, năm 2020 đạt 60% . Về quản lý, phấn đấu nâng cao năng lực toàn diện, cả vĩ mô và vi mô. Hoàn thiện pháp luật, chính sách, bảo đảm nhà nước quản lý, tổ chức thực hiện thuận lợi, người dân hài lòng, ngăn chặn tham nhũng, lãng phí. Đối với
  23. 23. 17 quản lý vi mô, yêu cầu cán bộ quản lý đơn vị (Bệnh viện, Viện, Trường, …) phải có tín chỉ đào tạo quản lý, mỗi ban quản lý đơn vị phải có ít nhất 1 cán bộ chuyên môn quản lý, với chỉ tiêu: năm 2015 đạt ít nhất 50%; năm 2020 đạt ít nhất 80% . Nghiên cứu, sớm thành lập bộ môn, khoa Quản lý Y tế cấp Đại học, Cao đẳng. Tăng cường xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tư của nhà nước, thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong chăm sóc nâng cao sức khỏe [1]. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về y tế là một nội dung quan trọng trong đó nhấn mạnh: Đẩy mạnh cải cách hành chính trong ngành y tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao năng lực lập kế hoạch và quản lý tài chính trong các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế. Thường xuyên theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch. Phân cấp quản lý rõ ràng cho các tuyến y tế, các địa phương. Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ y tế, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính của các cơ sở y tế công lập nhằm bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động y tế, làm tốt vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống y tế tư nhân. Tăng cường thanh tra, kiểm tra để các cơ sở y tế ngoài công lập hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là quy chế kê đơn và bán thuốc. Khuyến khích các cơ sở y tế ngoài công lập tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và hoạt động nhân đạo vì sức khỏe.[24] Phương thức quản lý nhà nước về y tế Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc phải tuân thủ các phương pháp của quản lý hành chính hà nước. Trong quản lý nhà nước về y tế phải giải quyết các yêu cầu quan trọng sau :
  24. 24. 18 Đảm bảo nguyên tắc tập chung dân chủ trong công tác quản lý nhà nước về y tế: Quản lý nhà nước về y tế phải có tính tập chung của nhà nước về các vấn đề trọng yếu nhưng không hạn chế quyền chủ động, sáng tạo, năng động, linh hoạt của cấp dưới. Nhà nước không can thiệp sâu vào các tác nghiệp vi mô, tác nghiệp kỹ thuật mà thiết lập các khuôn khổ pháp luật, công cụ quản lý để thúc đẩy sự vận động, hoạt động nhằm đạt được sự hoàn thiện và hiệu quả. Quản lý nhà nước về y tế trên cơ sở các quy định pháp luật, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Hệ thống pháp luật định hướng và tạo môi trường cho các thành phần được tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nói chung, chăm sóc sức khỏe ban dầu nói riêng…. Quản lý nhà nước về y tế phải đảm bảo tính thống nhất trong cả nước nhưng có sự phân công, phân cấp hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa TW – địa phương – ngành – lãnh thổ đặc biệt cần chú trọng việc phân chia rõ ràng giữa quản lý nhà nước về y tế theo ngành và quản lý nhà nước về y tế theo lãnh thổ để đảm bảo không bỏ sót, không chồng chéo, đồng thời cần tạo điều kiện tham gia của các tổ chức liên quan. Bộ máy quản lý nhà nước về y tế nói chung và y tế cấp xã nói riêng phải được tổ chức gọn, nhẹ nhưng phải hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Phương thức quản lý nhà nước về y tế phải được đổi mới theo hướng tăng cường tính pháp chế, tăng cường hội nhập, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quản lý hiện đại trên thế giới. Quản lý nhà nước về y tế hiện nay phải trên cơ sở không ngừng ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý, điều hành hệ thống. Phương thức nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về y tế các cấp cụ thể là :
  25. 25. 19 - Quản lý bằng pháp luật và chính sách; - Quản lý bằng tổ chức bộ máy và cán bộ; - Quản lý bằng đầu tư tài chính; - Quản lý thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá. 1.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc về y tế Chủ thể quản lý nhà nước về y tế là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền – Các cơ quan nhà nước theo luật định. Khách thể quản lý nhà nước về y tế cấp xã là những gì mà hoạt động quản lý hướng tới, tác động tới. Bao gồm: - Trật tự quản lý trong lĩnh vực y tế; - Là hoạt động của cơ sở y tế, hành vi cán bộ y tế. Đối tượng quản lý nhà nước về y tế: là hoạt động của các tổ chức y tế, hành vi của cán bộ y tế. Nội dung quản lý nhà nước về y tế bao gồm các nội dung sau: 1.3.1.Ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật Để điều hành và quản lý thống nhất các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các văn bản pháp luật là cơ sở để điều chình các hành vi và quan hệ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực này như: hoạt động khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, buôn bán dược phẩm, kiểm định y tế… Hiện nay, hệ thống pháp luật về y tế tương đối đầy đủ gồm 1137 văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp điều chỉnh các hoạt động y tế như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Dược năm 2005, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm
  26. 26. 20 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế năm 2014 cùng hàng loạt các VBQPPL khác hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên. Các văn bản quy phạm pháp luật này trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động của y tế cấp xã về mặt quản lý hành chính, cũng như về mặt chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, so với yêu cầu quản lý, vẫn chưa có luật để điều chỉnh các vấn đề: an toàn truyền máu; phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; quản lý trang thiết bị, sức khoẻ tâm thần, phòng chống tai nạn thương tích... [13] Đặc biệt đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh từng cấp quản lý, từng đối tượng quản lý trong đó có y tế cấp xã, phường, thị trấn như: Thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 gữa Bộ Y tế, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạnh và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế thuộc UBND tỉnh, thành phố trục thuộc trung ương và Phòng Y tế thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Nghị định số: 117/2014/NĐ-CP ngày 08/12/2015 của chính phủ về y tế cấp xã, phường, thị trấn; Thông tư số 33/2015/TT-BYT ngày 27/10/2015 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của TYT xã, Phường, thị trấn. 1.3.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển y tế, tham mưu và chỉ đạo triển khai các chính sách đối với y tế. Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác Chính sách y tế là các quan điểm về y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được thể chế hóa để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề của ngành y góp phần thực hiện công bằng xã hội, tiến bộ và phát triển con người trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân.
  27. 27. 21 Nhà nước ta đã ban hành các chính sách mang tầm quốc gia, cũng như mỗi địa phương phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà có những chính sách của riêng mình nhằm giải quyết các vấn đề y tế địa phương và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn hướng tới các mục tiêu công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển con người trong đó chính sách y tế cần thỏa mãn các giá trị mục tiêu sau: Một là, Công bằng và bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tính công bằng được thể hiện ở hai khía cạnh công bằng ngang và công bằng dọc. Công bằng ngang là sự đối xử như nhau với những người như nhau còn công bằng dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người khác nhau nhằm giảm bới sự khác biệt sẵn có. Với y tế khi xem xét sự công bằng người ta thường xem xét dưới góc độ chia sẻ lợi ích và chi phí giữa các cá nhân. Mọi người dân, đặc biệt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng. Ví dụ để người nghèo được khám chữa bệnh cần thực hiện công bằng dọc trong việc đóng góp tài chính tức là chúng ta cần có các chính sách hỗ trợ như BHYT miễn phí, giảm viện phí trực tiếp… Hai là, Đảm bảo được hưởng các phúc lợi xã hội cơ bản về y tế và sự hòa nhập cộng đồng. Sức khỏe là giá trị cơ bản của cuộc sống, nó vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của mọi quá trình phát triển. Đã từ lâu chăm sóc sức khỏe là một trong hai chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển của mỗi quốc gia (Chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số nghèo khổ HPI). Như vậy chăm sóc sức khỏe là phúc lợi chung mà con người cần được hưởng theo mức chung của thế giới. Mặt khác sức khỏe là một phương tiện cơ bản vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống cá nhân và quyết định tới năng suất
  28. 28. 22 lao động của họ. Vì vậy chăm sóc sức khỏe sẽ đảm bảo cho cá nhân có một tiền đề vững chắc để lao động và học tập, thoát nghèo và đảm bảo sự hòa nhập của họ với cộng đồng. Ba là, tạo điều kiện để mọi tầng lớp trong xã hội tham gia sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đây là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các Bộ, Ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội dân sự, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quản lý vĩ mô, định hướng phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua hệ thống pháp lý và chính sách; điều tiết, phân bổ nguồn lực, quản lý giá và chất lượng dịch vụ y tế. Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển y tế ngoài công lập, kết hợp công - tư để huy động nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe gắn với việc tăng nhanh đầu tư từ NSNN cho y tế, Ưu tiên phát triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, kết hợp quân dân y, phối hợp y tế ngành. Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hoá ngành y tế, phát triển y tế chuyên sâu và y tế phổ cập. [10] Chính phủ đã ban hành một số chính sách như chính sách quốc gia về thuốc, Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá ... Hiện nay, chỉ còn 01 chính sách là Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, ở các quốc gia khác, người ta chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật và chính sách nhưng ở nước ta, trong lĩnh vực y tế, công cụ chính sách lại ít được sử dụng. Mặt khác, về hình thức các chính sách và chiến lược đều tương đối giống nhau nên khó phân biệt sự khác nhau giữa chính sách và chiến lược.
  29. 29. 23 1.3.3. Thực hiện theo sự phân cấp của tổ chức bộ máy Bộ máy các cơ quan nhà nước quản lý về y tế là sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Có sự phân công, phân cấp giữa các cơ quan này. Đối với hệ thống y tế cơ sở. Trước ngày 25/01/2016 quản lý nhà nước về y tế cơ sở được điều chỉnh bời thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT- BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Theo đó, Sở Y tế thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Y tế thuộc UBND cấp huyện; Ngày 11/12/2015 Thông tư số 51/2015/TTLT-BNV-BYT thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ và Bộ Y tế ra đời về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở y tế thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng y tế thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thay thế cho thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở y tế, Phòng y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Thông tư quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Sở y tế, Phòng y tế là 2 cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND các cấp trong công tác quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn. Thông tư này đã có những điểm khác biệt so với thông tư số 03/2008/TTLT- BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ y tế và Bộ Nội vụ những điểm sau: - Mở rộng nhiệm vụ và quyền hạn của Sở y tế và Phòng y tế. Đây cũng là bước mở rộng chức năng quản lý nhà nước về y tế của các cơ quan chức năng góp phần quản lý tốt hơn và hiệu quả hơn. - Quy định rõ hơn cơ cấu tổ chức và biên chế của cơ quan chuyên môn Sở y tế và Phòng y tế, không đưa ra các đặc thù trong tổ chức đảm bảo tính
  30. 30. 24 thống nhất cao trong toàn bộ máy, bám sát các quy định mới về vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, viên chức, cơ cấu tổ chức bộ máy của các đơn vị sự nghiệp công lập có phân định rõ các lĩnh vực quản lý. - Đặc biệt tại Thông tư mới quy định rõ Trung tâm y tế huyện được tổ chức thống nhất trên địa bàn cấp huyện, thực hiện chức năng về dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng, các Phòng khám đa khoa khu vực, nhà hộ sinh khu vực(nếu có) và trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện là đơn vị thuộc Trung tâm Y tế huyện. * Các quy định về Sở Y tế Vị trí và chức năng - Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về y tế, bao gồm: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản và công tác y tế khác trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật. - Sở Y tế có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế. * Các quy định về Phòng Y tế Vị trí và chức năng - Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về y tế, bao gồm: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức
  31. 31. 25 năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn. - Phòng Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Y tế. Nhiệm vụ và quyền hạn - Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm và các văn bản khác; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền quy định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực y tế. - Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách. - Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận trong lĩnh vực y tế thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra đối với các hội và tổ chức phi chính phủ tham gia hoạt động trong lĩnh vực y tế trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật. - Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực được giao quản lý đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. - Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực được giao.
  32. 32. 26 - Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Y tế. - Kiểm tra, tham gia thanh tra về lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật, theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật. * Chính quyền địa phƣơng ở xã: Theo luật tổ chức chính quyền địa phƣơng Chính quyền địa phương ở xã: là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã. - Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
  33. 33. 27 - Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã. - Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã. Có thể thấy trong luật tổ chức chính quyền nhân dân đã quy định khái quát nhiệm vụ của chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) tuy nhiên chưa đề cập sâu vào nhiệm vụ quản lý nhà nước về y tế. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Y tế cấp xã Hiện nay theo Nghị định: 117/2014/NĐ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ quy định về Y tế cấp xã, Phường, thị trấn và Thông tư số: 33/2015/TT- BYT ngày 27/10/2015 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn nhiệm vụ, chức năng của Trạm Y tế cấp xã, phường, thị trấn. 02 văn bản này quy định . - Tổ chức Y tế cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Trạm Y tế cấp xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã). -Trạm Y tế cấp xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã. Trạm Y tế cấp xã có nhiệm vụ: - Thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh và phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe sinh sản; cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật; - Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản;
  34. 34. 28 - Phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn; - Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân trên địa bàn; - Là đơn vị thường trực Ban Chăm sóc sức khỏe cấp xã về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn; - Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Tổ chức và nhân lực - Tổ chức:Trạm Y tế cấp xã có Trưởng trạm và 01 Phó trưởng trạm;Viên chức làm việc tại Trạm Y tế cấp xã chịu trách nhiệm phụ trách lĩnh vực công tác theo sự phân công của Trưởng trạm bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ của Trạm y tế theo quy định tại Điều 2, Thông tư này; Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng trạm, Phó Trưởng trạm và luân chuyển, điều động viên chức làm việc tại Trạm Y tế do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện quyết định theo thẩm quyền và phân cấp quản lý ở địa phương. - Nhân lực: Cơ cấu chức danh nghề nghiệp và số lượng của từng chức danh nghề nghiệp làm việc tại Trạm y tế cấp xã xác định trên cơ sở nhu cầu thực tế, khối lượng công việc và đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của đơn vị hành chính cấp xã nơi có Trạm Y tế. Mối quan hệ của trạm y tế xã - Trạm Y tế cấp xã là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, chịu sự quản lý toàn diện, điều hành trực tiếp của Giám đốc Trung tâm Y tế huyện. - Trạm y tế cấp xã chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
  35. 35. 29 - Trạm y tế cấp xã có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội ở cấp xã và Trưởng thôn, bản trong việc tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn. 1.3.4. Đầu tư cho y tế . Y tế là dịch vụ xã hội đặc biệt, hoạt động khám chữa bệnh là hoạt động phi lợi nhuận. Đầu tư cho lĩnh vực là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội. Y tế cơ sở đặc biệt là y tế cấp xã là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, đảm bảo cho người dân được chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp nhất, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và xây dựng nếp sống văn hoá. Vì vậy đầu tư cho Y tế cơ sở là hình thức đầu tư thiết thực nhất góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và thuận tiện trong việc tiếp cận dịch vụ y tế của mọi tầng lớp nhân dân. Thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”, Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” của Bộ Chính trị; Trong thời gian qua, công tác CS&BVSKND luôn luôn được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo trực tiếp của của Thành ủy, HĐND và UBND thành phố; HĐND và UBND các cấp, cũng như được sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành và sự hổ trợ tích cực của các tổ chức phi Chính phủ, đã tạo điều kiện cho ngành Y tế củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở để phấn đấu khống chế được các dịch bệnh xảy ra và đã có nhiều biện pháp tích cực để người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa được tiếp cận các dịch vụ y tế một cách thuận lợi nhất. Đặc biệt trong thời gian qua có thế thấy các cơ quan quản lý nhà nước về y tế đã tập chung đầu tư các nội dung sau: nâng cấpcơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tăng cường xã hội hóa và huy động các nguồn lực khác, đặc biệt chú trọng đầu tư cho con người.
  36. 36. 30 1.3.5. Hợp tác, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hiệu quả của nền y tế là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố quan trọng nhất: Một là, nền y tế đó phải có một tổ chức bộ máy vận hành hiệu quả. Hai là, nền y tế đó phải có đội ngũ thầy thuốc được đào tạo bài bản, phải được bồi dưỡng thường xuyên, không ngừng nâng cao tay nghề, có khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao về kỹ thuật y học. Ba là, nền y tế đó phải từng bước được trang bị các kỹ thuật ngày càng hiện đại, có khả năng chẩn đoán nhanh, chính xác, và có đầy đủ các phương tiện hiện đại để đạt được các yêu cầu cao hơn trong khám chữa bệnh. Từ đây có thể thấy nguồn nhân lực y tế là một bộ phận quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lý y tế. Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong hoạt động y tế, Vì vậy quản lý nhà nước về y tế phải đảm bảo xây dựng được đội ngũ cán bộ y tế đủ về số lượng, và ngày càng nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Nhận thức được yêu cầu, đòi hỏi khách quan của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Đảng và nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển đội ngũ y bác sĩ, tại Nghị quyết 46-NQ/TW về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” cũng đã nêu lên “Nghề y là một nghề đặc biệt, vì vậy cần được đào tạo và sử dụng một cách đặc biệt”, cán bộ nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đực nghề nghiệp và năng lực chuyên môn. 1.3.6. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát y tế * Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, khắc
  37. 37. 31 phục, phòng ngừa những vi phạm pháp luật. Kiểm tra nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục cho cán bộ, nhân viên viên y tế tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh theo pháp luật; phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các văn bản quy phạm pháp luật để đề nghị bổ sung, sửa đổi; phát hiện những hành vi sai lệch trong việc thực hiện pháp luật; có biện pháp uốn nắn, khắc phục và phát hiện những việc làm vi phạm pháp luật; có biện pháp xử lý nghiêm minh, kịp thời; đồng thời phát hiện những điển hình thực hiện pháp luật tốt để động viên, khen thưởng. * Việc thanh tra thực hiện pháp luật về y tế Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước nhằm làm tốt công tác quản lý, giúp cho việc thực thi pháp luật được tiến hành một cách có hiệu quả.Việc thanh tra các hoạt động y tế tập trung vào những vấn đề chủ yếu như tiến hành thường xuyên các hoạt động thanh tra chuyên ngành về y tế theo thẩm quyền, tập trung vào các chế độ, quy tắc chuyên môn, kỹ thuật y tế, các hoạt động của các cơ sở y, dược tư nhân và khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về y tế, cơ quan thanh tra y tế, thanh tra viên y tế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt phải xử lý nghiêm, kịp thời và công bằng các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động y tế, bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến y tế. * Xử lý vi phạm Việc xử lý này thực chất là bảo vệ các giá trị của pháp luật về y tế không bị vi phạm trong thực tiễn cuộc sống, giúp cho công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế đạt hiệu quả cao hơn. Các hành vi vi phạm pháp luật gắn với từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau: Tội phạm và trách nhiệm hình sự; vi phạm pháp luật dân sự và trách nhiệm dân sự; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; vi
  38. 38. 32 phạm kỷ luật và trách nhiệm kỷ luật. Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công nên Luận án này không nghiên cứu vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm bồi thường dân sự. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là những hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Việc xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực y tế phải dựa trên cơ sở của pháp luật hiện hành về XPVPHC liên quan đến y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, KCB, thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế. Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế phải theo đúng các hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt. Xử lý kỷ luật đối với CCVC là một trong những công cụ, biện pháp quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ CCVC. Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC phải bảo đảm theo đúng các hình thức kỷ luật, bảo đảm khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng thời hiệu và theo đúng các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về CCVC. * Tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. Việc tôn vinh thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế được thể hiện qua các phong trào thi đua và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân. Tuy nhiên, phương thức này cần phải xem xét một cách nghiêm túc vì phần lớn khen thưởng không qua phong trào thi đua và nếu có phát động thi đua thì lại hình thức nên không linh thiêng hóa việc tôn vinh.[13] 1.4. Những yếu tố tác động tới quản lý nhà nƣớc về y tế Hệ thống pháp lý điều chỉnh trong lĩnh vực y tế ngày càng hoàn thiện nhưng còn nhiều hoạt động y tế chưa có văn bản pháp quy nào điều chỉnh như: an toàn truyền máu, sức khỏe tâm thần, phân công, phân cấp, phối hợp
  39. 39. 33 của các cơ quan quyền lực nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về y tế và các đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng cung cấp dịch vụ công …. Mặt khác nhiều văn bản đã lỗi thời không còn phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Đặc biệt các quy định về Trung tâm Y tế huyện là đơn vị trực tiếp quản lý các trạm y tế xã, thị trấn trên địa bàn đã, đang không còn phù hợp với thực tế quản lý và hoạt động điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản lý nhà nước về y tế. Những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của mạng lưới y tế, y tế cơ sở - y tế cấp xã, việc chuyển đổi, nhập tách cơ quan trực tiếp quản lý các trạm y tế cấp xã, thị trấn từ Trung tâm Y tế huyện sang Phòng Y tế quản lý, rồi điều chuyển lại mặc dù công tác tổ chức đã dần đi vào ổn định nhưng còn nhiều vướng mắc trong hoạt động của ngành Y tế trong nhiều năm qua việc phối hợp trong điều hành, quản lý của các cơ quan liên quan chưa thực nhuần nhuyễn làm ảnh hưởng chung đến hoạt động của các đơn vị, khó khăn trong quản lý nhà nước về y tế. Theo Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27/3/2001 của Chính phủ về việc tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã quy định: Chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện từ Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh về UBND cùng cấp. Thực hiện Nghị định trên của Chính phủ thì Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nội vụ đã xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 20/2001/TTLT-BTCCBCP- BYT hướng dẫn việc thực hiện chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn từ Trung tâm Y tế quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh về UBND cùng cấp. Tại hai văn bản này xác định rõ quản lý nhà nước về y tế cấp xã, phường, thị trấn thuộc thẩm quyền của UBND huyện. Tuỳ theo đặc điểm của huyện, Chủ tịch UBND huyện quyết định bố trí cán bộ, công chức
  40. 40. 34 trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, làm việc theo chế độ chuyên viên (không tổ chức thành phòng riêng), trực tiếp tham mưu cho Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện. Biên chế quản lý nhà nước về y tế của huyện nằm trong biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện và được điều chỉnh chung trong tổng biên chế quản lý nhà nước của tỉnh, huyện (TT20/2001) Tại Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về việc Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và trong giai đoạn hiện nay là Thông tư số 51/2015/TTLT- BNV-BYT ngày 11/12/2015 thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ và Bộ Y tế về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Y tế thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có những thay đổi cơ bản, trong đó xác định rõ trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện (Trung tâm Y tế trực thuộc Sở Y tế). Từ những quy định trên có thể thấy cơ cấu tổ chức, mô hình quản lý hiện nay làm cho Phòng y tế cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện quản lý nhà nước về y tế tại địa phương sẽ khó phát huy được hết vai trò quản lý nhà nước về y tế ở địa phương đặc biệt là y tế cấp xã. Quá trình hội nhập những yêu cầu về nguồn nhân lực làm việc trong ngành y đòi hỏi phải có sự kết hợp đổi mới của các khâu, từ đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế để tiệm cận tới các yêu cầu chung của khu vực và thế giới đòi hỏi phải có một cách thức mới trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực y tế.
  41. 41. 35 Mất cân bằng trình độ của nhân lực y tế hiện nay theo vùng, và lĩnh vực chuyên môn. Nhân lực y tế có trình độ cao tập trung chủ yếu thành phố lớn và khu vực kinh tế phát triển. Ở tuyến y tế cơ sở và vùng khó khăn, có tình trạng thiếu nhân lực y tế có trình độ đại học trở lên, đây là bài toán cho những cơ quan quản lý đi tìm lời giải đáp, làm cách nào, làm như thế nào để xây dựng đội ngũ y tế của mỗi địa phương vừa đủ về số lượng, vừa đủ về cơ cấu chức danh nghề nghiệp với trình độ chuyên môn đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương. Măt khác đề y đức, ứng xử của cán bộ y tế vẫn gây phản ứng của xã hội, bệnh nhân trong thời gian qua đặt ra các yêu cầu phải đổi mới cách thức quản lý nhà nước đối với đội ngũ này. Diễn biến phức tạp của mô hình bệnh tật, sự gia tăng của các loại dịch bệnh nguy hiểm, tình hình mất an toàn vệ sinh thực phẩm trở nên trầm trọng trong những năm gần đây …
  42. 42. 36 Kết luận Chƣơng 1 Chương 1 đã đề cập lý luận chung về quản lý nhà nước về y tế cấp xã đã hệ thống hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến y tế cơ sở trong đó có y tế cấp xã Trên cơ sở đó cho thấy cách thức tổ chức bộ máy quản lý, phương thức và nội dung quản lý nhà nước về y tế, một số nội dung xây dựng hệ thống y tế cơ sở vững mạnh góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế phục vụ nhân dân.
  43. 43. 37 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 2.1. Thực trạng hoạt động y tế huyện Ba Vì Phòng Y tế huyện Ba Vì có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho UBND huyện trong công tác quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện. Ngoài ra trên địa bàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa, 01 Trung tâm y tế huyện, 31 trạm y tế cấp xã, thị trấn, 03 phòng khám đa khoa khu vực, và nhiều phòng khám tư nhân, cơ sở y tế khác có chức năng cung ứng các dịch vụ y tế về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm Y tế huyện là các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế. Trạm Y tế thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật nhà nước. Về tổ chức, biên chế, tài chính tại trạm Y tế xã, thị trấn đều thuộc quản lý của Trung tâm Y tế huyện mặt khác chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Phòng Y tế và UBND cấp xã trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định. Ba Vì là một huyện của Thủ đô Hà Nội, tuy nhiên là một huyện miền núi địa hình phức tạp, có nhiêu dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên địa bàn, trình độ dân trí còn thấp, kinh tế - xã hội đang phát triển. Xác định được những thuận lợi khó khăn trên địa Bàn huyện UBND huyện Ba Vì chỉ đạo các cơ quan chuyên môn giúp việc trong việc hoạch định chính sách phát triển y tế Ba Vì nói chung, y tế cấp xã nói riêng theo định hướng chiến lược phát triển y tế thủ đô và phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội địa phương. Kết quả phấn đấu là những thành tích đạt được trong sự nghiệp phát
  44. 44. 38 triển kinh tế - xã hội- chính trị của huyện Ba Vì nói chung và sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân của ngành Y tế Ba Vì nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng phấn khởi trên các lĩnh vực hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh cho nhân dân trong toàn huyện, thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Có được các thành tự đó là kết quả của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp và sự chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn như: Phòng Y tế, Sở Y tế, Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế huyện sự cố gắng của cán bộ, viên chức và người lao động trong ngành y trên địa bàn. Trong những năm qua trong mạng lưới y tế cơ sở từ huyện đến xã, thị trấn, thôn, bản ngày càng được củng cố, hoàn thiện. Cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, trang thiết bị y tế được tăng cường và củng cố, với các dự án cụ thể như đã đầu tư trên 10 tỷ đồng xây dựng Khu khám bệnh trung tâm 5 tầng tại bệnh viện huyện; dự án mở rộng và nâng cấp Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì đạt tiêu chuẩn Bệnh viện hạng 2, với quy mô 400 giường bệnh; dự án xây dựng, cải tạo phòng khám đa khoa khu vực Bất Bạt trên, nhiều trạm y tế cấp xã, thị trấn cũng đã được xây dựng mới và nâng cấp. …Song song với công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế phục vụ chuyên môn, ngành Y tế của huyện cũng đã tạo mọi điều kiện cho hàng chục cán bộ y tế đi học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, cả về công tác quản lý tại các trường cao đẳng, đại học. Hiện tại Ba Vì đã trên 100% trạm y tế cấp xã có bác sĩ (bao gồm bác sĩ về hưu có hợp đồng làm việc tại trạm, bác sĩ tăng cường từ Trung tâm và bệnh viện đa khoa Ba Vì tại trạm), 100% trạm y tế có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học; 192/192 thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động. 100% xã, thị trấn trong huyện đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đặc biệt những năm gần đây Trung tâm Y tế huyện đã tham mưu cho UBND huyện, và một số xã mời được 5 bác sỹ về hưu đến làm việc tại các trạm y tế như: Cam Thượng, Yên
  45. 45. 39 Bài, Tản lĩnh, Phú Sơn, Ba Vì…. Ngoài ra, các hệ thống y tế còn tích cực phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tổ chức vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân xây dựng phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch; tích cực triển khai các dự án, giám sát dịch tễ chặt chẽ ngăn ngừa phát hiện sớm các nguy cơ xảy ra dịch để khống chế kịp thời. Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt, đạt mục tiêu đề ra. Đó là: tiêm chủng mở rộng phòng những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ em luôn đạt tỉ lệ từ 99% - 100% hàng năm, loại trừ uốn ván sơ sinh, bệnh bại liệt, sốt xuất huyết, sốt rét và tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS giảm; làm tốt công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, phòng chống các rối loạn do thiếu hụt i-ốt. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 17,4%. Cũng trong những năm qua, công tác y tế dự phòng được triển khai đồng bộ từ huyện đến xã, thị trấn, thôn, bản với việc tổ chức điều tra giám sát dịch tễ chặt chẽ ngay từ những ca bệnh đầu tiên, tổ chức khoanh vùng, xử lý ổ dịch mới, ổ dịch cũ, các khu vực có nguy cơ cao triệt để nên đã không để dịch lây lan, đặc biệt là đã kịp thời khống chế dịch cúm A(H1N1), tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn tả, không có trường hợp tử vong. Việc phòng chống các bệnh không nhiễm khuẩn như: tim mạch và tăng huyết áp, tiểu đường, ung thư, tâm thần, các bệnh cơ xương, khớp, tai nạn; chăm sóc người cao tuổỉ, tàn tật, người nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, các gia đình chính sách đạt nhiều kết quả tốt. Công tác khám, chữa bệnh tại Bệnh viện huyện đã triển khai thực hiện và áp dụng một số kỹ thuật cao trong chữa bệnh như: Phẫu thuật cắt tử cung toàn phần, mổ đẻ lần 2, sa sinh dục, kết xương đòn, xương cánh tay, chân , điều trị viêm tuy cấp ….; các trang thiết bị máy móc như: siêu âm màu, máy nội soi dạ dày, chụp X-Quang, xét nghiệm sinh hóa được triển khai đã phát huy tốt tác dụng phục vụ khám chữa bệnh. Công xuất sử dụng giường bệnh
  46. 46. 40 tăng qua các năm, giảm đáng kể bệnh nhân phải chuyển tuyến. Công tác dược và trang thiết bị y tế đã được củng cố và hoạt động ổn định theo chiều hướng phát triển, đảm bảo cung cấp phần lớn nhu cầu thuốc chữa bệnh và trang thiết bị thiết yếu cho nhu cầu người bệnh. Hệ thống y học cổ truyền tiếp tục được củng cố, phù hợp với cơ chế quản lý mới, hướng về y tế cộng đồng, làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu gắn với các chương trình kinh tế xã hội và xoá đói giảm nghèo, chữa bệnh thông thường tại cộng đồng theo mô hình: thầy tại nhà, thuốc tại vườn… do vậy tình hình sức khoẻ nhân dân trong huyện đã được cải thiện một bước. Tuổi thọ trung bình người dân ngày một tăng cao. Ngoài ra, trong năm qua huyện Ba Vì còn chủ động xây dựng đề án xây mới Bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phục vụ chăm sóc sức khỏe cho bà con 7 xã vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, hiện các thủ tục, hồ sơ thẩm định trình UBND thành phố quyết định phê duyệt, với tổng kinh phí gần 140 tỷ đồng…. Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống y tế huyện theo hướng hiện đại hóa, công bằng, hiệu quả và phát triển; hạn chế đến mức thấp nhất các dịch bệnh xảy ra; mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu tốt nhất, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Người dân đều được sống trong một cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội- chính trị của huyện và thành phố. Nhiệm vụ đó đã và đang đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Ba Vì, và hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở cần có những định hướng, chiến lược phát triển về y tế cụ thể trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đối với mỗi cán bộ y tế cần tích cực phấn đấu học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có những chuyển biến về nâng cao tinh thần trách nhiệm, y đức của người thầy thuốc, tích cực nghiên cứu khoa học, áp dụng những tiến bộ của kỹ thuật cao vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, góp phần cùng ngành y tế hoàn thành tốt nhiệm vụ

×