Diese Präsentation wurde erfolgreich gemeldet.
Die SlideShare-Präsentation wird heruntergeladen. ×

Tiểu luận mác lênin

Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Bài Tiểu Luận                                        GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân



                                     MỞ ĐẦU...
Bài Tiểu Luận                                        GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân

  đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa...
Bài Tiểu Luận                                       GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân

  .Nhƣ vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT...
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Wird geladen in …3
×

Hier ansehen

1 von 25 Anzeige

Weitere Verwandte Inhalte

Diashows für Sie (20)

Ähnlich wie Tiểu luận mác lênin (20)

Anzeige

Tiểu luận mác lênin

  1. 1. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân MỞ ĐẦU Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác- Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên. Ở đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề bản chất của ý thức.Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con ngƣời, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức là toàn bộ sản phẩm những hoạt động tinh thần của con ngƣời, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ƣớc muốn, hy vọng, ý chí niềm tin,..của con ngƣời trong cuộc sống.Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử- xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con ngƣời. 1. Lý do chọn đề tài: Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con ngƣời mới có.Tác động của ý thức xã hội đối với con ngƣời là vô cùng to lớn. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn. Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tƣ tƣỏng.Nền kinh tế của nƣớc ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế- kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nƣớc ta có thể đạt đƣợc những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn hay không?. Chúng ta phải làm gì để tránh đƣợc nguy cơ tụt hậu so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới?. Câu hỏi này 1
  2. 2. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bƣớc đi và trật tựƣu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới. Nhƣ vậy có nghĩa là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học. Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi ngƣời. Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả.Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tƣ tƣởng thì sẽ không phát huy đƣợc thế mạnh truyền thống của dân tộc. Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức. Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị: giá trị vật chất và tinh thần sẽ mất đi mọi ý nghĩa.Còn cách mạng tƣ tƣởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần- xã hội, xây dựng mối quan hệ tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời với tƣ cách là chủ thể xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra đƣợc những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con ngƣời.Mà có tự do thì con ngƣời mới có thể tham gia xây dựng đất nƣớc. Nhƣ vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống vật chất là các vấn đề khoa học- văn hoá- tƣ tƣởng có vai trò vô cùng quan trọng. Tìm hiểu về ý thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội. Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: "Ý thức và vai trò của tri thức đối với vật chất ". Vì chúng em nghĩ ý thức rất quan trọng, nó giúp cho chúng em có thể định hƣớng tiếp nhận thông tin, chọn lọc và xử lý thông tin để có một cái nhìn đúng đắn về những vấn đề đang xảy ra xung quanh chúng ta. Đó cũng chính là lý do nhóm em chọn đề tài này. 2. Tình hình nghiên cứu: Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trƣờng hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trƣớc ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tƣơng đối 2
  3. 3. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân .Nhƣ vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trƣớc cái nào quyết định .Không nhƣ vậy sẽ lẫn lộn 2 đƣờng lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tƣơng đối nhƣ là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu đƣợc trong hoạt động của con ngƣời ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con ngƣời ,ý thức có thức có thể cải biến đƣợc tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhƣng thông qua hoạt động thực tiễn của con ngƣời,ý thức có thể cải tiến đƣợc ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con ngƣời có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con ngƣời. Nhƣ vậy tính tƣơng đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tƣơng đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con ngƣời là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tƣơng đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò nhƣ nhau trong đời sống và hoạt động của con ngƣời .Trái lại, Triết học Mác- Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con ngƣời những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con ngƣời không thể tạo ra các đối tƣợng vật chất ,cũng không thể thay đổi đƣợc những quy luật vận động của nó . Do đó,trong quá trình hoạt động của 3
  4. 4. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân mình con ngƣời phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trƣơng trong phạm vi vật chất cho phép. 3. Đối tƣợng nghiên cứu: sinh viên 4. Mục đích nghiên cứu: Để chứng minh đƣợc tính khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng, thông qua phân tích vấn đề cơ bản của triết học phạm trù vật chất và ý thức, tính thống nhất vật chất của thế giới. Hình thành nguyên tắc khách quan, tránh thái độ chủ quan trong nhận thức cũng nhƣ trong thực tiễn. Cơ sở giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng đối với vấn đề cơ bản của triết học. Đó là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu: Dựa vào bộ sách” Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” Qua các sách báo, tài liệu, mạng internet Chủ nghĩa Mác- Lênin 6. Dự kiến kết quả nghiên cứu: Biết đƣợc tầm quan trọng về bản chất của ý thức theo quan điểm của Mác- Lênin. Biết đƣợc việc tìm hiểu vấn đề trong quá trình phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong việc học tập của mình, rèn luyện cho chúng ta để hình thành, phải tự giác tu dƣỡng, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hƣớng hành động. Phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, dó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tƣởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủquan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lƣợt, sách lƣợt,.. 4
  5. 5. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân 7. Kết cấu đề tài Gồm các chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về ý thức Chƣơng II: Vấn đề phát huy tính tích cực của ý thức NỘI DUNG CHƯƠNG I:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC 1.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức. 1.1.1 Khái niệm về ý thức Để đƣa ra đƣợc định nghĩa về ý thức,con ngƣời đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài, nó trải qua những tƣ tƣởng từ thô sơ, sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học. Ngay từ thời cổ xƣa,từ khi con ngƣời còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản thân vì chƣa lý giải đƣợc các sự vật hiện tƣợng xung quanh mình. Do chƣa giải thích đƣợc giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cƣ trú trong cơ thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển đƣợc suy nghĩ tình cảm của con ngƣời mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con ngƣời. Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết. Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con ngƣời nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới, quan niệm về hồi tƣởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến không chỉ ở trong con ngƣời mà cả trong các sự vật, hiện tƣợng, trong thế giới cõi ngƣời và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm gíac và cho rằng cảm giác của con ngƣời chi phối thế giới...Nhƣ vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất ..Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể 5
  6. 6. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành.Khi khoa học tự nhiên phát triển, con ngƣời đã chứng minh đƣợc sự phụ thuộc của các hiện tƣợng tinh thần, ý thức vào bộ óc con ngƣời thì một bộ phận nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức nhƣ gan tiết ra mật.Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa này chƣa chỉ rõ đƣợc vai trò của xã hội, của ý thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con ngƣời thông qua lao động và ngôn ngữ. Theo triết học Mac-Lênin "ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của ngƣời thông qua lao động ngôn ngữ''. Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con ngƣời và đƣợc cải biến đi trong đó. Ý thức là một hiện tƣợng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phƣơng thức tồn tại của ý thức.Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện hƣớng về bản thân mình, tự khẳng định "cái tôi" riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng tự ý thức là ý thức hƣớng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con ngƣời tự phân biệt đƣợc mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình nhƣ là một thực thể hoạt động có cảm giác, có tƣ duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con ngƣời phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con ngƣời có thể đặt ra và trả lời các câu hỏi: Mình là ai? Mình phải làm gì?. Mình đƣợc làm gì?. Làm nhƣ thế nào?. Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là "gƣơng soi" giúp con ngƣời tự ý thức đƣợc bản thân. 6
  7. 7. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trƣớc nhƣng gần nhƣ đã trở thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể. Tình cảm là những xúc động của con ngƣời trƣớc thế giới xung quanh đối với bản thân mình. Cảm gíac yêu ghét một cái gì đó, một ngƣời nào đó hay một sự vật, hiện tƣợng xung quanh. Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con ngƣời về thế giới. Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phƣơng thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con ngƣời nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên. Con ngƣời tích lũy đƣợc càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tƣởng tƣợng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí. Ngƣợc lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con ngƣời hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực. Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhƣng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hƣớng tới tri thức. 1.1.2- Nguồn gốc của ý thức. 1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con ngƣời và bộ óc con ngƣời. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trƣớc khi xuất hiện con ngƣời, rằng hoạt động tâm lý của con ngƣời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con ngƣời. 7
  8. 8. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đƣợc thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dƣới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thƣơng thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối loạn.Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đƣợc thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dƣới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chát khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tƣợng phản ánh. Trong thế giới vô cơ có hình thức phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn. Tất cả những biến đổi cơ lý hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản ánh khác nhau, nhƣng chúng đều là phản ánh của vật chất vô sinh. Giới hữu sinh có tổ chức cao hơn giới vô sinh. Song bản thân giới hữu sinh lại tồn tại những trình độ khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ở trình độ khác nhau tƣơng ứng. Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trƣng cho thế giới thực vật và các động vật bậc thấp chƣa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh. Nét đặc trƣng cho phản ánh này là ngay trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môi trƣờng bên ngoài thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh 8
  9. 9. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tính chất riêng biệt của sự vật thành các cảm giác khác nhau rất đa dạng và phong phú. Phản ánh tâm lý là hình hức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ƣơng. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đƣa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lƣờng trƣớc đƣợc tất cả những tình huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn đƣa ra hành động thích hợp nhất. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi xuất hiện con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ cảm tính nhƣ cảm gíac, tri giác, biểu tƣợng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tƣợng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội. 1.1.2.2 - Nguồn gốc xã hội. Ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con ngƣời là sự khác biệt về chất so với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc ngƣời dƣới ảnh hƣởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội. Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con ngƣời. Chính nhờ lao động mà con ngƣời và xã hội loài ngƣời mới hình thành, phát triển. Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài ngƣời là vƣợn, ngƣời nguyên thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lƣợm, săn bắt và ăn thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vƣợn ngƣời đã sáng tạo ra 9
  10. 10. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành con ngƣời. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và nƣớng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trƣớc các tình huống khách quan. Mặt khác, lao động là hoạt động có tính toán, có phƣơng pháp mục đích do đó mang tính chủ động.Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con ngƣời vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con ngƣời hiểu biết thêm về thế giới xung quanh, thấy sự vật hiện tƣợng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chƣa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chƣa từng có trong tự nhiên có thê mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trƣớc đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới. Lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng triệu lần phƣơng pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tƣ duy trừu tƣợng của con ngƣời. Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức. Con ngƣời thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà ngƣời ta nói "Một kiến trúc sƣ tồi còn hơn một con ong giỏi", bởi.vì trứơc khi xây một ngôi nhà ngƣời kiến trúc sƣ đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con ong chỉ là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con ngƣời hình thành và hoàn thiện. Ăng ghen nói" Sau lao đọng và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hƣởng đến bộ óc con vƣợn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc ngƣời.'' Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức. Ngôn ngữ đƣợc coi là 'cái vỏ vật chất" của tƣ duy, khi mà con ngƣời có biểu hiện liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến nhu cầu " cần nói với nhau một cái gì" đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tƣ tƣởng con ngƣời có khả năng biểu hiện thành "hiện thực trực tiếp", trở thành tín 10
  11. 11. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân hiệu vật chất tác động vào giác quan của con ngƣời, gây ra cảm giác. Do vậy, qua ngôn ngữ con ngƣời có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tƣ tƣởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngƣợc lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới có thể thực hiện nhƣ là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy ngôn ngữ trở thành một phƣơng tiện vật chất không thể thiếu đƣợc của sự trừu tƣợng hóa, khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tƣợng hóa, khái quát hóa mà con ngƣời có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tƣợng? đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tƣ duy và văn hóa con ngƣời và xã hội loài ngƣời. 1.1.3- Bản chất của ý thức. 1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo. Ý thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài, từ vật gây tác động đƣợc truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan. Ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con ngƣời. ý thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức. ý thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc ngƣời, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, có định hƣớng, có chọn lọc tồn tại dƣới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự vật, hiện tƣợng, vật chất, cảm tính.Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với 11
  12. 12. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân nhau không thể tách rời. Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngƣợc lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã đƣợc di chuyển vào bộ não ngƣời và đƣợc cải biến đi trong đó. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tƣ tƣởng. Đó là quá trình tƣ tƣởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dƣới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tƣợng mới, tự nhiên "mới" tự nhiên "thứ hai" của con ngƣời. 1.1.3.2- Bản tính xã hội. Ý thức đƣợc hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con ngƣời. Trong quá trình đó con ngƣời nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng xã hội ra đời. ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, ý thức trƣớc hết là tri thức của con ngƣời về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa ngƣời với ngƣời trong xã hội. Do đó ý thức xã hội đƣợc hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định. Nhƣ vậy, con ngƣời suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của ngƣời khác, của xã hội của nhân loại nói chung. Tự tách ra khỏi môi trƣờng xã hội con ngƣời không thể có ý thức, tình cảm ngƣời thực sự. Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội. Ta phải học làm ngƣời qua môi trƣờng xã hội lành mạnh. 12
  13. 13. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con ngƣời. 1.1.3.3 – Sự tác động trở lại vật chất của ý thức Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con ngƣời. Nhƣng nếu chỉ thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy đƣợc tính năng động tích cực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con ngƣời không phải là sự phản ánh giản đơn ,mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “. Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con ngƣời phát triển song song với quá trình đó và có tính độc lập tƣơng đối tác động trở lại đối với vật chất.Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực. Khi con ngƣời có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích cực.Con ngƣời sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra những mực tiêu,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất, thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn.Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.Do những tƣ tƣởng ,đƣờng lối sai lầm dẫn đến chiến, đến những chiến lƣợc phát triển kinh tế không hiệu quả...No kéo lùi sự phát triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tƣ tình cảm của con ngƣời không phụ thuộc vào vật chẩt.Dựa vào đặc tính này của vật chất con ngƣời có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập,xây dựng đất nƣớc và xã hội giàu mạnh hơn,công bằng hơn. 1.2.-Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội. 1.2.1- Khái niệm về khoa học 13
  14. 14. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc thù của con ngƣời khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội, khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, đƣợc hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tƣ duy con ngƣời. Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và đƣợc kiểm nghiệm qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hƣ ảo với niềm tin mù quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực. Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật. Đối tƣợng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân con ngƣời, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội. 1.2.2-Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động thực tiễn. Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội. Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những nghành sản xuất mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu đƣợc của ngƣời lao động, biến ngƣời lao đọng thành ngƣời điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông. Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn. Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, các khoa học xã hội nhƣ kinh tế học, luật học, xã hội học... cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng 14
  15. 15. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống mà còn giúp con ngƣời có đầu óc tƣ duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm đƣợc cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định đƣợc chính sách, đƣờng lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia. Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến bộ, CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA Ý THỨC 2.1 Lý luận chung về mối quan hệ vật chất và ý thức. Quan điểm triết học Mác – Lênin đã khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất và ý thức tác động trở lại vật chất để làm rõ quan điểm này chúng ta chia làm hai phần. 2.1.1 Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức. Lê- Nin đã đƣa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đƣợc đem lại cho con ngƣời trong cảm giác, đƣợc cảm giác của chúng ta chép lại phản ánh và đƣợc tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào bộ não của con ngƣời thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định nội dung của ý thức. Thứ nhất, phải có bộ óc của con ngƣời phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra đời của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con ngƣời mới tạo ra đƣợc ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tƣơng tác giữa bộ não con ngƣời và thế giới khách quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một ngƣời nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động đƣợc hay không có bộ não thì không thể có ý thức đƣợc. Cũng nhƣ câu chuyện cậu bé sống trong rừng cùng bầy sói không đƣợc tiếp xúc 15
  16. 16. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân với xã hội loài ngƣời thì hành động của cậu ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ giống nhƣ những con sói. Tức là hoàn toàn không có ý thức. Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức. Nhờ có lao động mà các giác quan của con ngƣời phát triển phản ánh tinh tế hơn đối với hiện thực… ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay là phƣơng tiện thể hiện ý thức. Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức.Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo. VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thƣờng trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não ngƣời. Nhƣng khi bộ não ngƣời bị tổn thƣơng thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn. VD2. Ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là rất yếu kém sở dĩ nhƣ vậy là do về máy móc cũng nhƣ đội ngũ giáo viên giảng dậy còn thiếu. Nhƣng nếu vấn đề về cơ sở vật chất đƣợc đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin của các em cấp 1, 2, 3 sẽ tốt hơn rất nhiều. VD2. Đã khẳng định điều kiện vật chất nhƣ thế nào thì ý thức chỉ là nhƣ thế đó. 2.1.2 Ý thức tác động trở lại vật chất. Trƣớc hết ta đƣa ra định nghĩa của ý thức: ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não con ngƣời thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là toàn bộ hoạt động tinh thần của con ngƣời nhƣ: Tình cảm yêu thƣơng, tâm trạng, cảm súc, ý trí, tập quán, truyền thống, thói quen quan điểm, tƣ tƣởng, lý luận, đƣờng lối, chính sách, mục đích, kế hoạch, biện pháp, phƣơng hƣớng.Các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại vật chất cách mạng mẽ. VD. Nếu tâm trạng của ngƣời công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suất của một dây chuyền sản xuất trong nhà máy. Nếu không có đƣờng lối cách mạng đúng đắn của đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể giảng thắng lơị trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp 16
  17. 17. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân và Mĩ cũng nhƣ Lê – Nin đã nói “ Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”. Nhƣ vậy ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức có tính độc lập tƣơng đối vì nó có tính năng động cao nên ý thức có thể tác động trở lại. Vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thấy đẩy hoạt động thực tiễn của con ngƣời trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. Khi phản ánh đúng hiện thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của các sự vật hiện tƣợng trong thế giới quan. VD1. Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 10000C thì con ngƣời tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất cách loại thép với đủ các kích cỡ chủng loại, chứ không phải bằng phƣơng pháp thủ công xa xƣa. VD2. Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nƣớc. Tƣ sản đại hội VI, đảng ta chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tế thị trƣờng, nhờ đó mà sau gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nƣớc ta đã thay đổi hẳn. Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con ngƣời trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử lý rác thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ là chƣa đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trƣơng nhà máy này đã không sử lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần đƣợc thanh lý. 2.2 Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của nước ta. 2.2.1Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết định ý thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó. 17
  18. 18. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Trƣớc thời kì đổi mới, khi cơ sở vật chất con chƣa có chúng ta nôn nóng muôn đốt cháy giai đoạn nên đã phải trả giá.Ở thời kì này chúng ta phát triển quan hệ sản xuất đi trƣớc lực lƣợng sản xuất mà không nhìn thấy vai trò quyết định của lực lƣợng sản xuất. Sau giải phóng đất nƣớc ta là một đất nƣớc nông nghiệp với số dân tham gia vào ngành này tới hơn 90%. Nhƣng chúng ta vẫn xây dựng các nhà máy công nghiệp trong khi để nhanh chóng trở thành nƣớc công nghiệp hoá trong khi lực lƣợng sản xuất chƣa phát triển, thêm vào đó là sự phân công không hợp lý về quản lý nhà nƣớc và của xã hội, quyền lực quá tập trung vào Đảng, và Nhà nƣớc quản lý quá nhiều các mặt của đời sống xã hội, thực hiện quá cứng nhắc làm cho toàn xã hội thiếu sức sống, thiếu năng động và sáng tạo,. Các giám đốc thời kì này chỉ đến ngồi chơi xơi nƣớc và cuối tháng lĩnh lƣơng, các nông dân và công nhân làm đúng giờ quy định nhƣng hiệu quả không cao… Ở đây chúng ta đã xem nhẹ thực tế phức tạp khách quan của thời kì quá độ, chƣa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa là quá trình lịch sử lâu dài và phải trải qua nhiều chặng đƣờng. Từ đây, chúng ta phải có cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa và cơ sở vật chất phát triển. Chúng ta phải xây dựng lực lƣợng sản xuất phù hợp quan hệ sản xuất. Chúng ta có thể bỏ qua tƣ bản chủ nghĩa nhƣng không thể bỏ qua những tính quy luật chung của quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Chúng ta cũng phải biết kế thừa và phát triển tích cực những kết quả của công nghiệp tƣ bản nhƣ thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ – môi trƣờng, là cơ chế thị trƣờng với nhiều hình thức cụ thể tác động vào quá trình phát triển kinh tế. Để vực nền kinh tế lạc hậu của nƣớc nhà, Đảng xác định là phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần để tăng sức sống và năng động cho nền kinh tế, phát triển lực lƣợng sản xuất. Phát triển các quan hệ hàng hoá và tiền tệ và tự do buôn bán, các thành phần kinh tế tự do kinh doanh và phát triển theo khuôn khổ của pháp luật, đƣợc bình đẳng trƣớc pháp luật. Mục tiêu là làm cho thành phần kinh tế quốc 18
  19. 19. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân doanh và tập thể đóng vai trò chủ đạo. Song song quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì chúng ta cũng cần phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta còn đang ở trình độ kém phát triển. Biểu hiện ở số lƣợng hàng hoá và chủng loại hàng hoá quá nghèo nàn, khối lƣợng hàng hoá lƣu thông trên thị trƣờng và kim ngạch xuất nhập khẩu còn quá nhỏ, chi phí sản xuất lại quá cao dẫn đến giá thành cdao, nhƣng chất lƣợng mặt hàng là kém. Nhiều loại thị trƣờng quan trọng còn ở trình độ sơ khai hoặc mới đang trong quá trình hình thành nhƣ: thị trƣờng vốn, thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng sức lao động… Chúng ta cũng cần mở rộng giao lƣu kinh tế nƣớc ngoài, nhanh chóng hội nhập vào tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, AFTA và các hiệp định song phƣơng đồng thời phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Muốn vậy, ta phải đa phƣơng hoá và đa dạng hoá hình thức và đối tác, phải quán triệt trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị – xã hội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đất nƣớc trong quanhệ kinh tế quốc dân nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên thiên nhiên đất nƣớc, tăng xuất nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý. Với các chủ trƣơng trên ta nhận thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, đó cũng là bài học quan trọng của Đảng là: “Mọi đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. 2.2.2 Để xây dựng XHCN cũng cần phải hiểu sâu sắc vai trò của ý thức tác động trở lại vật chất Một trong chủ trƣơng quan trọng là phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tƣ tƣởng Mác – Lênin là sự thốn nhất giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn của đất nƣớc Việt Nam. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đã bảo về và quán triệt chủ nghĩa 19
  20. 20. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Mác – Lênin đúng đắn và hiệu quả nhất. Nhƣ vậy muốn hiểu sâu sắc và vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh phải nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là phép biện chứng duy vật và phải nghiên cứu, nắm vững thực tiễn. Chúng ta phải tập trung suy nghĩ về hai mặt: Một là, về mục tiêu, lý tƣởng và đạo đức lối sống. Đây là yếu tố cơ bản nhất chi phối mọi suy nghĩ, hành động của chúng ta quyết định phẩm chất của ngƣời cán bộ, đảng viên trong điều kiện chuyển biến của thế giới và tình hình trong nƣớc. Tƣ tƣởng của Bác khẳng định mỗi ngƣời chúng ta hãy nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức công dân và đạo đức của ngƣời cộng sản. Cụ thể, chúng ta phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tƣ”, luôn vì sự nghiệp dân giàu nƣớc mạnh vì lợi ích của cá nhân và cả lợi ích của cộng đồng. Kiên quyết và nghiêm khắc chống chủ nghĩa thực dụng với các biểu hiện tính đa dạng trong nền kinh tế thị trƣờng mở cửa, thực sự góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội, ngăn chặn sự thoái hoá biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Hai là, về yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mỗi ngƣời trên cƣơng vị trách nhiệm của mình, phải hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả, chất lƣợng cao. Vì vậy, chúng ta phải đề cao ý chí phấn đấu, phấn đấu không mệt mỏi, không sợ hy sinh, gian khổ, đồng thời phải ra sức trau dồi tri thức. Cần nâng cao tri thức khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, nâng cao tri thức về khoa học tự nhiên, đặc biệt là mũi nhọn về khoa học công nghệ hiện đại. Phải nắm vững phƣơng pháp nhận thức và hành động của Bác, bám sát thực tiễn, bám sát cơ sở, thâm nhập dân chúng, đánh giá đúng khó khăn thuận lợi, thực trạng và triển vọng. Tự nội lực, vì dân và thực sự dựa vào dân, thực hiện dân chủ lắng nghe và tâm trạng ý kiến của dân mà tìm ra phƣơng sách, biện pháp, nguồn vốn sức mạnh vật chất và tinh thần, trí tuệ để vƣợt qua khó khăn và thách thức. 20
  21. 21. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân Phấn đấu tốt hai mặt trên là chúng ta đã thực sự quán triệt tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và làm theo di chúc của Ngƣời, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng mà Ngƣời đã chỉ đƣờng để xây dựng một đất nƣớc Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Vai trò ý thức tác động lại vật chất cũng phải đƣợc hiện rõ ở khía cạnh phát huy tính năng động và tích cực và vai trò trung tâm của con ngƣời, một số giải pháp cho vấn đề này: Một là, đổi mới hệ thống chính trị dân chủ hoá đời sống xã hội nhằm phát huy đầy đủ tính tích cực và quyền làm chủ của nhân dân. Hai là, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội phù hợp có ý nghĩa then chốt trong việc phát huy tính tích cực của ngƣời lao động nhƣ: cơ chế quản lý mới phải thể hiện rõ bản chất của một cơ chế dân chủ, và cơ chế này phải lấy con ngƣời làm trung tâm, vì con ngƣời, hƣớng tới con ngƣời là phát huy mọi nguồn lực. Cơ chế quản lý mới phải xây dựng đội ngũ quản lý có năng lực và phẩm chất thành thạo về nghiệp vụ. Ba là, đảm bảo lợi ích của ngƣời lao động là động lực mạnh mẽ của quá trình nâng cao tính tích cực của con ngƣời: cần quan tâm đúng mức đến lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế của ngƣời lao động đảm bảo nhu cầu thiết yếu của họ hoạt động sáng tạo nhƣ ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, khám chữa bệnh, nghỉ ngơi. Cũng cần có chính sách đảm bảo và kích thích phát triển về mặt tinh thần, thể chất cho nhân dân, tăng cƣờng xây dựng hệ thống cơ chế chính sách phù hợp để giải quyết tốt vấn đề ba lợi ích tập thể, và lợi ích xã hội nhằm đảm bảo lợi ích trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài của ngƣời lao động. Đảng và Nhà nƣớc cũng cần khắc phục thái độ trông chờ và ỷ lại vào hoàn cảnh bằng cách nhanh chóng cổ phần hoá các công ty nhà nƣớc để tạo sự năng động, sáng tạo trong hoạt động cũng nhƣ cạnh tranh, nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Đảng cũng phải cƣơng quyết giải thể các công ty làm ăn thua lỗ nhƣ: Tổng 21
  22. 22. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân công ty sành sứ Việt Nam, Tổng công ty nhựa, Tổng công ty rau quả Việt Nam… để tránh việc nhà nƣớc bỏ vốn vào nhƣng lại luôn phải bù lỗ cho các công ty này. Ngoài ra chúng ta cũng cần nâng cao trình độ nhận thức tri thức khoa học cho nhân dân nói chung và đặc biệt đầu tƣ cho ngành giáo dục. Chúng ta cần xây dựng chiến lƣợc giáo dục, đào tạo, với những giải pháp mạnh mẽ phù hợp để mở rộng quy mô chất lƣợng ngành đào tạo, đối với nội dung và phƣơng pháp giáo dục, đào tạo, cải tiến nội dung chƣơng trình giáo dục, đào tạo phù hợp với từng đối tƣợng, trƣờng lớp ngành nghề. Kết hợp giữa việc nâng cao dân trí, phổ cập giáo dục với việc bồi dƣỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của ngƣời lao động để đáp ứng nhu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp trên sẽ kích thích tính năng động và tài năng sáng tạo của ngƣời lao động ở nƣớc ta. Sự nghiệp đất nƣớc càng phát triển thì tính tích cực và năng động của con ngƣời càng tăng lên một cách hàng hợp với quy luật. KẾT LUẬN Nói tóm lại, vật chất bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đối với ý thức, nó là cái có trƣớc ý thức, nhƣng ý thức có tính lực năng động tác động trở lại vật chất. Mối tác động qua lại này chỉ đƣợc thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Chúng ta nâng cao vai trò của ý thức với vật chất chính là ở chỗ nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật khách quan trong hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Trong thời kì đổi mới của nƣớc ta khi chuyển nền từ tập trung, quan liêu sang nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Với chủ trƣơng này chúng ta đã giành đƣợc một số thắng lợi to lớn tuy nhiên vẫn còn một số thiếu sót, đặc biệt ở khâu hành động. Đề ra chủ trƣơng là vấn đề quan trọng nhƣng thực hiện nó mới là một vấn đề thực sự khó khăn. 22
  23. 23. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Bộ giáo dục và đào tạo,Giáo trình triết học Mác – Lênin. [2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, HN. [3]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995, Tập 23 tr. 21. [4]. Đảng cộng sản Việt Nam , Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, HN. [5]. Công cụ tìm kiếm : www.google.com.vn MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………..1 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………….. 2. Tình hình nghiên cứu………………………………………………………..2 3. Đối tƣợng nghiên cứu……………………………………………………….4 4. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………… 5. Phƣơng pháp nghiên cứu……………………………………………………. 6. Dự kiến kết quả nghiên cứu…………………………………………………. 7. Kết cấu đề tài………………………………………………………………… NỘI DUNG………………………………………………………………………… CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC…………….5 1.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức. ……………………………...… 1.1.1 Khái niệm về ý thức………………………………………………………… 1.1. 2- Nguồn gốc của ý thức. ………………………………………………..….7 23
  24. 24. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân 1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên……………………………………………………… 1.1.2.2 - Nguồn gốc xã hội……………………………………………………….8 1.1.3- Bản chất của ý thức. ……………………………………………………….9 1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo. ………………………………………...11 1.1.3.2- Bản tính xã hội. ………………………………………………………...12 1.1.3.3- Sự tác động trở lại vật chất của ý thức………………………………….13 1.2.-Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội. ……………… 1.2.1- Khái niệm về khoa học………………………………………………………. 1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. …………..14 CHƢƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA Ý THỨC……….15 2.1. Lý luận chung về mối quan hệ vật chất và ý thức. …………………………… 2.1.1. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức………………………………… 2.1.2. Ý thức tác động trở lại vật chất……………………………………………16 2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con đƣờng đi lên xã hội chủ nghĩa của nƣớc ta………………………………………………17 2.2.1. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất định ý thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó…………………..18 2.2.2 Để xây dựng XHCN cũng cần phải hiểu sâu sắc vai trò của ý thức tác động trở lại vật chất……………………………………………………………………19 Kết luận………………………………………………………………………….22 Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….23 24
  25. 25. Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân 25

×