Diese Präsentation wurde erfolgreich gemeldet.
Die SlideShare-Präsentation wird heruntergeladen. ×

Báo Cáo Thực Tập Truyền Thông Về Biển, Đảo Trên Báo Chí Cà Mau

Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
P...
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
P...
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của báo cáo Truyền thông về biển,
đảo trên báo chí Cà Mau là những kiến thứ...
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige
Anzeige

Hier ansehen

1 von 120 Anzeige

Báo Cáo Thực Tập Truyền Thông Về Biển, Đảo Trên Báo Chí Cà Mau

Herunterladen, um offline zu lesen

Báo Cáo Thực Tập Truyền Thông Về Biển, Đảo Trên Báo Chí Cà Mau đã chia sẻ đến cho các bạn nguồn tài liệu hoàn toàn miễn phí, chẳng những thế còn hay. Nếu các bạn có nhu cầu cần tải bài mẫu này vui lòng nhắn tin qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được hỗ trợ tải nhé!

Báo Cáo Thực Tập Truyền Thông Về Biển, Đảo Trên Báo Chí Cà Mau đã chia sẻ đến cho các bạn nguồn tài liệu hoàn toàn miễn phí, chẳng những thế còn hay. Nếu các bạn có nhu cầu cần tải bài mẫu này vui lòng nhắn tin qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được hỗ trợ tải nhé!

Anzeige
Anzeige

Weitere Verwandte Inhalte

Weitere von luanvanpanda.com (20)

Aktuellste (20)

Anzeige

Báo Cáo Thực Tập Truyền Thông Về Biển, Đảo Trên Báo Chí Cà Mau

  1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- PHẠM THỊ HỒNG VÂN TRUYỀN THÔNG VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU (Khảo sát Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau năm 2013) NHẬN VIẾT THUÊ KHOÁ LUẬN ZALO/TELEGRAM HỖ TRỢ : 0917.193.864 WEBSITE: VIETKHOALUAN.COM BÁO CÁO THỰC TẬP BÁO CHÍ Hà Nội – 2022
  2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- PHẠM THỊ HỒNG VÂN TRUYỀN THÔNG VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU (Khảo sát Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau năm 2013) Chuyên ngành: Báo chí học Mã số: 60.32.01 BÁO CÁO THỰC TẬP BÁO CHÍ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hƣng Hà Nội - 2022
  3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của báo cáo Truyền thông về biển, đảo trên báo chí Cà Mau là những kiến thức do tôi thu nhận được trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài của mình, không sao chép từ bất kì nguồn tài liệu nào. Trong báo cáo của mình tôi có sử dụng một số trích dẫn từ các nguồn tài liệu tham khảo. Các tài liệu trích dẫn đều được dẫn nguồn đầy đủ. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những lời cam đoan của mình. Cà Mau, ngày 10 tháng 4 năm 2015 Học viên Phạm Thị Hồng Vân
  4. 4. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành báo cáo này, tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền thông – Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền dạy cho tôi những kiến thức, những kỹ năng cần thiết trong quá trình theo học bậc Đại học và Cao học. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Phạm Thành Hƣng, giảng viên hƣớng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này. Thầy đã tận tâm chỉ bảo, định hƣớng cho tôi về mặt lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu, đồng thời gợi mở những kiến thức khoa học mới để áp dụng vào báo cáo này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập, Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng ban, biên tập viên, phóng viên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT- TH Cà Mau, cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi suốt quá trình thực hiện báo cáo này. Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, tôi nhận thấy báo cáo của mình còn nhiều thiếu sót. Kính mong sự góp ý và sửa chữa của các thầy cô giáo, hội đồng phản biện cũng nhƣ các bạn học viên để báo cáo đƣợc hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Cà Mau, ngày 10 tháng 4 năm 2015 Học viên Phạm Thị Hồng Vân
  5. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................... 4 1.Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................................... 4 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề......................................................................................................... 7 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................................... 8 4. Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................ 9 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................................ 9 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.............................................................................. 10 7. Kết cấu của báo cáo .................................................................................................................. 10 CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ TRUYỀN THÔNG BIỂN, ĐẢO................................................................................................. 12 1.1 Một số vấn đề lý luận chung............................................................................................... 12 1.1.1 Những khái niệm............................................................................................................. 12 1.1.2 Khái niệm biển, đảo ....................................................................................................... 14 1.2 Quan điểm, định hướng của Đảng, Nhà nước về tuyên truyền biển đảo......... 15 1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề biển đảo...................................... 15 1.2.2 Định hướng của Đảng, Nhà nước trong công tác tuyên truyền về biển, đảo 17 1.3 Vấn đề biển, đảo trên báo chí Trung ương và địa phương hiện nay.................. 19 1.3.1 Tuyên truyền biển, đảo là nhiệm vụ của báo chí cả nước............................. 19 1.3.2 Báo chí địa phương với nhiệm vụ truyền thông về biển, đảo ..................... 20 1.3.3 Báo chí Cà Mau với chủ đề biển, đảo.................................................................... 24 Tiểu kết chương 1 ................................................................................................................................. 30 CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG THỨC CHUYỂN TẢI THÔNG ĐIỆP BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CÀ MAU, BÁO ẢNH ĐẤT MŨI VÀ ĐÀI PT- TH CÀ MAU ......................................................................................................................................... 32 2.1 Nội dung biển, đảo trên các loại hình báo chí............................................................. 32 2.1.1 Tuyến tin bài về CQBĐ............................................................................................... 34 2.1.2 Tuyến tin bài về BĐKH............................................................................................... 41 2.1.3 Tuyến tin bài về đề tài kinh tế biển........................................................................ 44 2.1.4 Tuyến tin bài về ASXH cho cư dân ven biển .................................................... 48 1
  6. 6. 2.1.5 Tuyến tin bài VH-DL................................................................................................... 49 2.2 Phương thức truyền thông thông điệp biển, đảo của các loại hình báo chí.... 52 2.2.1 Liên kết mở các chuyên mục, chuyên đề.............................................................. 52 2.2.2 Liên kết thông tin theo sự kiện.................................................................................. 56 2.3 Các thể loại báo chí được sử dụng.................................................................................... 59 2.3.1 Trên Báo Cà Mau và Báo ảnh Đất Mũi................................................................. 59 2.3.2 Trên Đài PT-TH Cà Mau............................................................................................. 66 Tiểu kết chương 2 ................................................................................................................................. 71 Chƣơng 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG BIỂN, ĐẢO TRÊN CÁC PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG CÀ MAU.............................................................................................................................. 72 3.1. Những vấn đề đặt ra cho báo chí Cà Mau trong truyền thông về biển, đảo .. 72 3.1.1 Truyền thông chưa đủ chiều sâu để nêu bật đặc trưng chủ đề biển đảo Cà Mau.................................................................................................................................................. 72 3.1.2 Sự trùng lặp thông tin................................................................................................... 76 3.1.3 Hình thức truyền thông về biển đảo còn đơn điệu, nghèo nàn................... 77 3.1.4 Tính nghiệp dư trong tác nghiệp, thiếu những bài viết tầm cỡ mang tính định hướng, dự báo................................................................................................................... 78 3.1.5 Thể hiện chuyên mục, chuyên đề đơn điệu, khuôn mẫu............................... 79 3.1.6 Thể hiện tác phẩm báo chí chưa chuyên nghiệp, ít sáng tạo....................... 80 3.1.7 Phạm vi tác động còn hẹp........................................................................................... 81 3.2. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thông tin biển, đảo cho báo chí địa phương miền biển........................................................................................................................... 82 3.2.1 Giải pháp chung.............................................................................................................. 82 3.2.2 Giải pháp cụ thể.............................................................................................................. 88 Tiểu kết chương 3............................................................................................................................ 90 KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 94 PHỤ LỤC........................................................................................................................................... 97 2
  7. 7. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CQBĐ : Chủ quyền biển đảo BĐKH : Biến đổi khí hậu ASXH : An sinh xã hội VH-DL : Văn hoá – du lịch 3
  8. 8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam xác định nhiều khu vực xây dựng cảng, trong đó có một số nơi có thể xây dựng cảng biển nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Phía Nam, cảng quy mô vừa như Hòn Chông, Phú Quốc… Ngoài sự hình thành mạng lưới cảng biển, các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi. Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt. Trữ lượng dự báo tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác từ 4 đến 5 tỷ tấn. Trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000 tỷ m3. Hiện nay chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần 10 mỏ, hàng năm cung cấp hàng triệu tấn dầu và hàng tỷ m3 khí phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh. Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựng khác. 4
  9. 9. Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Theo các điều tra về nguồn lợi hải sản, tính đa dạng sinh học trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú, trong đó có 6.000 loài động vật đáy, 2.400 loài cá (trong đó có 130 loài cá có giá trị kinh tế), 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù sa, 537 loài thực vật phù du, 225 loài tôm biển… Trữ lượng cá biển ước tính trong khoảng từ 3,1 đến 4,1 triệu tấn, khả năng khai thác từ 1,4 đến 1,6 triệu tấn. Biển Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch - ngành công nghiệp không khói, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước. Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc đã ghi nhận có tới 2/3 cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta. Những chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt 1077; chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc. Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam có vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển. Do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50 km), nên chiều sâu đất nước bị hạn chế. Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của ta đều nằm trong phạm vi cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị địch tấn công từ hướng biển. Nếu chiến tranh xảy ra thì mọi mục tiêu trên đất liền đều nằm trong tầm hoạt động, bắn phá của vũ khí trang bị công nghệ cao xuất phát từ hướng biển. Nếu các quần đảo xa bờ, gần bờ được củng cố xây dựng căn cứ, vị trí trú đậu, triển khai của lực lượng Hải quân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển đảo có vai trò quan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước. 5
  10. 10. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống. Trong đó 28 tỉnh, thành đó có Cà Mau. Biên giới biển, đảo tỉnh Cà Mau có vị trí địa lý rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh với chiều dài bờ biển 254 km2 , có 2 cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối; vùng biển rộng tiếp giáp với vùng biển các nước Thái Lan, Malaisia, Inđonêsia, Campuchia, là nơi có đường hàng hải quốc tế đi qua rất thuận tiện cho việc thông thương buôn bán, trao đổi hàng hoá với các nước trong khu vực và trên thế giới đồng thời là nơi chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản phong phú, nhất là nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, đa dạng và trữ lượng dầu khí lớn. Khu vực biên giới biển của tỉnh gồm 23 xã, thị trấn thuộc 6 huyện ven biển, là địa bàn vùng xa, vùng sâu, địa hình phần lớn là rừng ngập mặn, kênh rạch chằng chịt, giao thông đi lại khó khăn, chủ yếu bằng đường thuỷ. Dân số chiếm khoảng 30% dân số toàn tỉnh, phân bố không đồng đều, sống tập trung ở các cửa sông lớn. Ngành nghề chủ yếu ngư, nông, lâm nghiệp, trong đó nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ sản có tiềm năng phát triển mạnh. Nhận thấy tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá X) tháng 2/2007 đã thông qua Nghị quyết số 09/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Tiếp đó đến ngày 7/10/2008 Ban Bí thư đã ra Thông báo số 188 về đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, trong đó yêu cầu “Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí chiến lược của biển, đảo”. Giữ vai trò cơ quan ngôn lụân của Đảng bộ, chính quyền, diễn đàn của nhân dân, những năm qua, các cơ quan truyền thông đại chúng chủ lực của báo chí Cà Mau như Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau đã thực hiện Thông báo số 188 với việc tuyên truyền, mở các chuyên đề, chuyên trang biển, đảo. Gần đây, trên các khu vực biển của Cà Mau xảy ra tình trạng ngư dân ta khai thác thuỷ sản và hợp đồng khai thác thuỷ sản trái pháp luật, lấn sang vùng biển các 6
  11. 11. nước láng giềng, tình hình thiên tai, lốc xoáy, an ninh trật tự, tranh chấp ngư trường, tai nạn trên biển có lúc diễn ra khá phức tạp. Chính vì vậy, báo chí Cà Mau cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông về biển, đảo, CQBĐ đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người dân ven biển Cà Mau. Nhằm có cái nhìn tổng quát, nhận diện những mặt làm được cũng như đưa ra những gợi ý, đề xuất nâng cao chất lượng tin bài về biển, đảo trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Cà Mau, người viết chọn đề tài “Truyền thông biển, đảo trên Báo chí Cà Mau” (Khảo sát Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài Phát thanh - truyền hình (PT-TH) Cà Mau năm 2013) 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Qua tìm hiểu của chúng tôi, về nghiên cứu về truyền thông biển, đảo thời gian qua có một số đề tài: - Báo cáo “Thông tin chủ quyền biển đảo trên kênh VTV Đà Nẵng (khảo sát từ 01/2013 đến 06/2013)” của Văn Công Nghĩa, chuyên ngành Báo chí học. Báo cáo chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng thông tin chủ quyền biển đảo trên VTV Đà Nẵng; đề xuất các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thông tin chủ quyền biển đảo trên VTV Đà Nẵng thời gian tới. Giải quyết vấn đề: Xác lập hệ thống lí luận về báo chí truyền thông; vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí trong việc thông tin tuyên truyền về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đó vai trò của VTV Đà Nẵng trong thông tin chủ quyền biển đảo hiện nay; nghiên cứu thực trạng chương trình phát sóng của VTV Đà Nẵng có liên quan đến chủ quyền biển đảo từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2013. Báo cáo “Vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam qua một số báo điện tử Anh ngữ” (Nguyễn Thị Quỳnh Nga, báo cáo thực tập, chuyên ngành Báo chí, năm 2013). Trên cơ sở khảo sát, phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động Thông tin đối ngoại về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam trên một số tờ báo điện tử Anh ngữ, báo cáo nêu bật thực trạng về cách sản xuất, hình thức và nội dung thông tin đối ngoại của báo chí trong nước. 7
  12. 12. Báo cáo “Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam (Qua thực tế các chương trình trên hệ thời sự chính trị tổng hợp VOV1)”, (Nguyễn Thị Hoà, báo cáo thực tập, chuyên ngành Báo chí, năm 2011). Báo cáo “Báo Biên phòng với chủ đề bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia”, (Phùng Quốc Việt, báo cáo thực tập, chuyên ngành Báo chí năm 2004). Về các tài liệu liên quan đến biển, đảo Việt Nam có cuốn “Bạch Long Vỹ - đảo thành niên”, NXB Thanh niên năm 2002; sách “ Hỏi – đáp những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản” của Ban Tuyên giáo T.Ư – NXB Thế giới 2007; sách “Biển và Hải đảo Việt Nam” do Trung tâm Thông tin phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn năm 2007; cuốn “Chiến lược biển Việt Nam từ quan điểm đến thực tiễn” của Ban Tuyên giáo T.Ư, NXB Chính trị Quốc gia năm 2010… Ngoài ra còn có một số tài liệu và báo cáo , khóa luận tốt nghiệp gần với đề tài này, có thể kể đến, như: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin của bản tin đối ngoại Thông tấn xã Việt Nam” (Trần Thúy Hà, khóa luận tốt nghiệp, năm 2002); “Thông tin đối ngoại trên truyền hình Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Mai Hoa, báo cáo thực tập, năm 2011). Các bài viết, chuyên luận như “Báo chí với công tác thông tin, tuyên truyền về biển đảo Việt Nam” của PGS, TS Dương Xuân Sơn; Một vài trao đổi về kinh nghiệm viết bài, góp phần đấu tranh dư luận bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông của Báo Nhân Dân (Ban biên tập Báo Nhân Dân); Báo Quân đội nhân dân điện tử với công tác tuyên truyền biển, đảo Việt Nam (Báo Quân đội nhân dân); Tuyên truyền biển, đảo Việt Nam – Một số vấn đề cần quan tâm (TS Trần Công Trục);… Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác truyền thông biển, đảo trên tất cả các cơ quan truyền thông đại chúng tại một tỉnh có biển như Cà Mau. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là các thông tin về biển, đảo. 8
  13. 13. Phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ một báo cáo tốt nghiệp, chúng tôi đi sâu tìm hiểu hình thức và nội dung truyền thông về biển, đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau trong năm 2013. Báo cáo tập trung phân loại tin bài, khảo sát, phân tích những tác phẩm tiêu biểu, tạm gác lại những bài báo có nội dung trùng nhau. Đối với Đài PT-TH, vì hệ phát thanh chủ yếu phát lại tin tức, phóng sự của truyền hình nên tác giả chỉ chọn phân tích các thông điệp truyền hình. 4. Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Báo cáo sẽ khảo sát, phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động truyền thông về biển, đảo trên các phương tiện truyền thông của Cà Mau. Đồng thời, đi sâu phân tích các hình thức, thể loại báo chí phản ánh các đề tài biển, đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau. Từ đó, báo cáo sẽ chỉ ra những mặt đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại và gợi mở hướng khắc phục, nâng cao chất lượng, hiệu quả. 4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Căn cứ từ chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền biển, đảo trong giai đoạn hiện nay, báo cáo phân tích thực trạng, nhận thức của các cơ quan truyền thông trong thực hiện nhiệm vụ truyền thông biển, đảo. So sánh, phân tích hiệu quả các nội dung, hình thức phản ánh chủ đề biển đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau. - Nhận diện những đặc trưng riêng trong nội dung tuyên truyền về biển, đảo của Cà Mau so với đề tài biển, đảo quốc gia; đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng tuyên truyền chủ đề biển, đảo. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp để nghiên cứu đề tài này: - Về phương pháp luận, báo cáo được thực hiện nhất quán trên quan điểm duy vật lịch sử và hệ thống quan điểm của Đảng và chủ trương của Nhà nước Việt Nam về chủ quyền đất nước, về truyền thông chính trị cùng các vấn đề hữu quan. - Các phương pháp nghiên cứu gắn với các thao tác cụ thể: sưu tầm tài liệu, 9
  14. 14. thống kê, phân loại, so sánh, hệ thống hoá các sự kiện để đánh giá thông tin và đưa ra nhận xét. Xử lý tư liệu kết hợp phân tích kết quả khảo sát. - Phương pháp phỏng vấn sâu: Báo cáo sẽ thực hiện khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Thông tin Truyền thông, Ban biên tập, Ban Giám đốc 3 cơ quan Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau, các phóng viên, biên tập viên. Đồng thời, phỏng vấn các đơn vị có liên quan như Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau, một số đài truyền thanh huyện vùng biển. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1 Ý nghĩa lý luận - Trong quá trình triển khai thực hiện, báo cáo giúp người viết củng cố, tổng hợp, hệ thống hoá các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác truyền thông biển, đảo; sự quan tâm công tác truyền thông biển, đảo tại một địa phương có biển, đảo như Cà Mau - Nội dung của báo cáo cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo ít nhiều hữu ích cho việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan. 6.2 Ý nghĩa thực tiễn - Báo cáo mang kỳ vọng cung cấp cái nhìn bao quát hơn về hoạt động truyền thông biển, đảo trên 3 cơ quan truyền thông đại chúng chủ lực của Cà Mau. -Từ việc phân tích các ý kiến, hiệu quả tuyên truyền biển đảo tại Cà Mau thời gian qua, báo cáo cũng đưa ra những gợi mở, đề xuất cho việc sản xuất tin bài mang thông điệp biển, đảo giúp các cơ quan truyền thông nâng chất công tác tuyên truyền về biển, đảo. 7. Kết cấu của báo cáo Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo được tổ chức thực hiện qua 3 chương: Chƣơng 1: Quan điểm, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về truyền thông biển, đảo. Chương này trình bày những quan điểm, chính sách, định hướng của Đảng, Nhà nước về truyền thông biển, đảo. Trong đó, có những chủ trương của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Cà Mau. 10
  15. 15. Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng thức chuyển tải thông điệp biển, đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau. Nội dung của chương này đi sâu phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực tế của tác phẩm báo in, phát thanh và truyền hình cụ thể. Khái quát những thành công qua các chuyên trang, chuyên mục, thể loại báo chí được sử dụng phục vụ cho nội dung biển, đảo. Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông biển, đảo tại Cà Mau. Chương này đúc rút một số vấn đề đặt ra trong quá trình khảo sát; đưa gợi mở những chủ đề, hình thức phản ánh các tin bài về chủ đề biển, đảo. 11
  16. 16. CHƢƠNG 1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ TRUYỀN THÔNG BIỂN, ĐẢO 1.1 Một số vấn đề lý luận chung 1.1.1 Những khái niệm Truyền thông có gốc từ tiềng Latinh là “Communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường (hay thực tế), chia sẻ, truyền tải. Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác thông qua các ký tín hiệu có ý nghĩa. Truyền thông không chỉ là quá trình chia sẻ thông tin. Các quá trình truyền thông phần lớn các trường hợp là các tương tác bằng dấu hiệu được trung gian hoà giải. Ba mức độ quy tắc tín hiệu học thống trị các quá trình truyền thông là: cú pháp, thực dụng và ngữ nghĩa. Thế nên, truyền thông là phần nào một loại tương tác xã giao có ít nhất hai tác nhân làm việc tương tác cùng chia sẻ chung một bộ các ký hiệu và chung một quy tắc tín hiệu học. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Truyền thông, ở bình diện tổng quát, được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng. Bản chất xã hội của truyền thông là tương tác và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động xã hội trên cơ sở tương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng tới mục tiêu chung vì lợi ích cộng đồng (20, tr.32). Truyền thông là một trong những kênh quan trọng nhất, thể hiện rõ nhất tính công khai, dân chủ hóa đời sống xã hội. Các kênh truyền thông rất đa dạng, nhưng về cơ bản có các dạng thức như truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng (20, tr.33). Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng điện tử. Truyền thông đại chúng là phương tiện chuyển tải thông điệp, thông qua hệ thống 12
  17. 17. các kênh truyền thông tác động vào công chúng để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm… nhằm lôi kéo và thuyết phục, tập hợp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra. Hai khái niệm này trong thực tiễn gần như trùng khớp nhau. Chính vì thế, yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động báo chí – truyền thông là góp phần thay đổi nhận thức của công chúng xã hội, làm cho nhận thức của nhân dân từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ nhiều khác biệt đến nhiều tương đồng hơn… Và cuối cùng là thống nhất nhận thức, tạo ra đồng thuận để hình thành thái độ chung, niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của đông đảo quần chúng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển. Tạo lập, gây dựng niềm tin và ý chí cho hàng triệu người là mục tiêu quan trọng nhất của báo chí – truyền thông. Hiệu quả tác động của báo chí do đó cũng chịu sự chi phối, phụ thuộc của nhiều yếu tố, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; từ chủ quan đến khách quan… thể hiện theo các bình diện sau: Thứ nhất, giao diện, tần suất và cường độ giao tiếp của công chúng với các sản phẩm báo chí – truyền thông; Thứ hai, năng lực tác động, khả năng chi phối của các ấn phẩm báo chí đối với cộng đồng thông qua việc khơi nguồn, thể hiện – truyền dẫn, định hướng và điều hòa dư luận xã hội; Thứ ba, mối quan hệ tác động phản hồi – quan hệ ngược (feedback) của công chúng đối với các ấn phẩm báo chí cũng như thông điệp truyền thông; Thứ tư, vai trò của báo chí – truyền thông trong việc xã hội hóa cá nhân, trong việc hình thành, thể hiện diện mạo văn hóa cộng đồng cũng như góp phần hoàn thiện nhân cách mỗi con người. Thứ năm, khả năng thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra. Từ những phân tích trên đây cho thấy, mỗi loại hình báo chí cần chú ý khai thác những đặc trưng thế mạnh của mình trong vai trò phát huy sức mạnh của dư luận xã hội. 13
  18. 18. 1.1.2 Khái niệm biển, đảo Trong Từ điển tiếng Việt, “biển” được định nghĩa là: 1) Danh từ: 1. Vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt Trái Đất. 2. Phần đại dương ven lục địa được ngăn cách bởi đảo hay đất liền. 3. Khối lượng nhiều, đông đảo, được ví như biển. Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền ít hay nhiều. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định về đảo ở Điều 121, nhưng không có quy định riêng về quần đảo (Phần IV - từ Điều 46 đến Điều 54 - quy định về quốc gia quần đảo chứ không phải quần đảo ngoài khơi thuộc nước lục địa). Theo đó, đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước (khoản 1 Điều 121 Công ước). Quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử (Điều 46 điểm B). Theo Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam (Lưu Văn Lợi, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2007), Việt Nam giáp với biển Đông ở 2 phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần của biển Đông, chiếm khoảng 29% diện tích của biển Đông (khoảng 1 triệu km2 ), rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền. Bờ biển dài 3.260 km, như vậy cứ 100 km2 thì có 1 km bờ biển (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền/ 1 km bờ biển). Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền: 1 triệu km2 /330.000 km2 ). Biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ xa bờ, gần bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đảo ven bờ chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tích khoảng 1.700 km2 , trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2 (Phú Quốc, Cát Bầu, Cát Bà), có 23 đảo diện tích lớn hơn 10 km2 , có 82 đảo diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 4.000 hòn đảo chưa có tên. Dựa trên những khái niệm trên, truyền thông về biển, đảo trên báo chí Cà Mau được hiểu là công tác tuyên truyền, truyền tải thông tin về những vấn đề biển, đảo trong 14
  19. 19. tỉnh, cả nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng của tỉnh Cà Mau đến các đối tượng, cá nhân và tổ chức trong và ngoài tỉnh nâng cao nhận thức nhằm thay đổi thái độ và hành vi của những đối tượng này. 1.2 Quan điểm, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về tuyên truyền biển đảo 1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về vấn đề biển đảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Nước CHXHCN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển Việt nam đã được khẳng định trong Điều 4 của Luật Biển Việt Nam: 1. Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. 3. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế. Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là văn bản pháp lý quan trọng thứ hai của thế giới (Sau Hiến chương Liên hợp quốc) được phê chuẩn vào ngày 16/11/1994, Việt Nam là nước 63 trên thế giới phê chuẩn công ước này thông qua Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ngày 23/6/1994 và nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn ngày 25/7/1994. Nghị quyết của Quốc hội ta phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 đã nhấn mạnh: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, nước CHXHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. 15
  20. 20. Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo được thể hiện tập trung trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết 03/NQ-TƯ ngày 6- 5-1993 của Bộ Chính trị (Khóa VII) về "Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt"; Chỉ thị 20-CT/TƯ ngày 22- 9-1997 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về "Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá"; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa X) về "Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020", gồm những nội dung cơ bản sau: - Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. - Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển của Tổ quốc. - Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng - an ninh để quản lý, bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. - Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn liền với tăng cường quốc phòng- an ninh trên biển; tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên biển, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là lực lượng hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng và dân quân, tự vệ biển, đủ sức làm nòng cốt trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển quốc gia. - Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực từ bên ngoài, thông qua hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế; trong đó, nguồn lực trong nước là nhân tố quyết định, thực hiện vừa hợp tác vừa đấu tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo, để phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên biển. - Đối với các tranh chấp trên biển Đông, chủ trương nhất quán của Việt Nam là các bên tôn trọng nguyên trạng, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về 16
  21. 21. Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng biển Đông thành vùng biển hoà bình, hợp tác và phát triển. 1.2.2 Định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc trong công tác tuyên truyền về biển, đảo Kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Trung ương Đảng, thông qua sự chỉ đạo, định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương và cơ quan tuyên giáo cấp uỷ đảng, nhiều bộ, ngành, địa phương và các đoàn thể nhân dân đã tập trung đẩy mạnh tuyên truyền biển đảo. Phương hướng chung của công tác tuyên truyền biển, đảo là tuyên truyền các định hướng cơ bản về phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ chủ quyền các vùng biển, đảo và quần đảo của Việt Nam. Hằng năm các hoạt động tuyên truyền biển đảo đều được Ban Tuyên giáo Trung ương sơ, tổng kết. Trong năm 2013, các cơ quan thông tin đại chúng trung ương và địa phương thực hiện tuyên truyền về biển, đảo theo Hướng dẫn số 74 của Ban Tuyên giáo trung ương. Theo đó, những nội dung tuyên truyền được xác định là tiếp tục tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong các cấp bộ Đoàn và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta, trong đó có Luật Biển Việt Nam được Quốc hội (khóa XIII) nước CHXHCN Việt Nam thông qua; những nội dung cơ bản của Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và Bộ Quy tắc ứng xử mang tính pháp lý của các bên ở biển Đông (COC) khi được thông qua. Tuyên truyền, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống vùng biển, ven biển, gắn kết với đảm bảo giữ vững quốc phòng, an ninh và chủ quyền các 17
  22. 22. vùng biển, đảo của Tổ quốc. Tuyên truyền, giới thiệu, biểu dương những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của các địa phương, các ngành và cả nước; nêu cao vai trò và trách nhiệm của các thành phần kinh tế trong việc tham gia tích cực vào phát triển kinh tế biển; những thành tựu hợp tác quốc tế về biển. Tuyên truyền, phổ biến, chuyển giao những thành tựu khoa học – công nghệ và những kinh nghiệm tốt để ứng dụng vào việc nuôi trồng, đánh bắt, khai thác nguồn lợi thủy, hải sản; phổ biến kiến thức về tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, về thông tin và dự báo thời tiết, về phòng, chống thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng cũng như bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; phát triển khoa học – công nghệ biển. Tuyên truyền, nhân rộng mô hình “Tổ tàu, thuyền an toàn trên biển”, về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vùng ven biển. Tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế về biển trong ngư dân, những người lao động trên biển. Tuyên truyền về thực hiện chính sách khuyến nông, khuyến ngư các chủ trương, chính sách khác của Chính phủ về phát triển kinh tế biển và ven biển. Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang ngày đêm làm nhiệm vụ phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng thiêng của Tổ quốc. Đấu tranh với các hành động của nước ngoài xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, tài phán của Việt Nam đối với vùng biển, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đẩy mạnh tuyên truyền, thông tin đối ngoại, làm cho bạn bè và dư luận quốc tế hiểu rõ lập trường chính nghĩa của Việt Nam; những cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và thực tiễn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa cũng như những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biển Đông, tạo sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè và dư luận quốc tế đối với Việt Nam. 18
  23. 23. Mục đích, yêu cầu trong công tác tuyên truyền biển đảo mà các phương tiện thông tin đại chúng hướng đến là tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí chiến lược của biển đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tuyên truyền tạo sự thống nhất cao trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên và sự đồng thuận trong xã hội đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo; nhận thức sâu sắc mục tiêu: Kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, đồng thời giữ gìn môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Công tác tuyên truyền cần đảm bảo sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong toàn lực lượng làm công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền biển, đảo đảm bảo tính chủ động, nhạy bén, chính xác trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính thống, có hiệu quả giữa các lực lượng tuyên truyền của cả hệ thống chính trị, đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, các tình huống đột xuất. Tuyên truyền bằng mọi hình thức để thông tin về biển, đảo Việt Nam được thường xuyên, sâu rộng, đặc biệt cần sử dụng và khai thác hiệu quả ưu điểm, lợi thế của các phương tiện truyền thông hiện đại, Internet, blog, các trang mạng xã hội (cả bằng tiếng nước ngoài) để chuyển tải kịp thời quan điểm, lập trường của Việt Nam trong vấn đề biển Đông tới cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt ở nước ngoài. 1.3 Vấn đề biển, đảo trên báo chí Trung ƣơng và địa phƣơng hiện nay 1.3.1 Tuyên truyền biển, đảo là nhiệm vụ của báo chí cả nƣớc Ngày nay, tiến ra biển để khai thác nguồn lợi từ biển đã và đang trở thành xu hướng chung của thế giới và khu vực. Các quốc gia có tiềm lực kinh tế - quân sự 19
  24. 24. đều sớm xây dựng chiến lược biển, trong đó đặc biệt quan tâm triển khai chiến lược tuyên truyền về biển, đảo với những mục tiêu, lộ trình rất khoa học và cụ thể, đồng thời sử dụng tổng hợp toàn diện các lực lượng, phương tiện và hình thức để đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Tại Việt Nam, báo chí có nhiệm vụ hết sức to lớn, là cầu nối hàng triệu trái tim trong cả nước hướng về biển đảo thân yêu, và cũng cây cầu nối giữa bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh giành lẽ phải, công lý bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh quốc gia. Các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương luôn là lực lượng nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ tuyên truyền biển, đảo hiện nay. Kể từ khi Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 được thông qua và quán triệt triển khai (từ năm 2008 đến nay), hầu hết các cơ quan báo chí đều có kế hoạch xây dựng chuyên trang, chuyên mục về lĩnh vực biển, đảo. Ngoài việc tiếp tục đăng tải các thông tin góp phần nâng cao nhận thức chung của xã hội về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển; đấu tranh phản bác các luận điệu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về chủ quyền biển, đảo; báo chí còn quảng bá các danh thắng biển, đảo, về thành tựu phát triển kinh tế biển, phản ánh những nhân tố mới, những điểm sáng trong đời sống của đồng bào và chiến sĩ trên các vùng biển, đảo Tổ quốc. Hệ thống các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, cơ quan báo chí ngành đã và đang quan tâm dành thời lượng phát sóng cũng như diện tích mặt báo, đa dạng các hình thức thể hiện về đề tài biển, đảo để thực hiện các nhiệm vụ tuyên truyên, định hướng dư luận và hình thành nên kênh thông tin hữu hiệu kêu gọi sự đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương. 1.3.2 Báo chí địa phƣơng với nhiệm vụ truyền thông về biển, đảo 1.3.2.1 Nhiệm vụ tuyên truyền Tuyên truyền là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong quá trình thông tin của báo chí. Vì vậy, báo chí đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tuyên truyền về các thông tin liên quan đến vấn đề biển, đảo. 20
  25. 25. Trước hết, báo chí thông tin về vấn đề biển, đảo để tuyên truyền đường lối, quan điểm của Nhà nước đến đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài nước. Vấn đề biển, đảo là một trong những vấn đề rất nhạy cảm về mặt ngoại giao, có ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực. Vì vậy, quan điểm và nhận định của mỗi nước, mỗi tổ chức rất khác nhau, nếu như không có những thông tin tuyên truyền của báo chí, công chúng sẽ dễ đi chệch hướng và có những hiểu biết sai lầm về vấn đề biển, đảo. Ngoài ra các thế lực thù địch cũng sẽ tận dụng những kẽ hở từ việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của công chúng để truyền bá những tư tưởng ngoài luồng nhằm mục đích kích động quần chúng nhân dân biểu tình, chống lại quan điểm, chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Các thông tin tuyên truyền trên báo chí đã nêu rõ quan điểm của Việt Nam về “chủ quyền không thể tranh cãi” ở 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, đồng thời nêu rõ quyết tâm giữ vững chủ quyền biển, đảo của toàn quốc gia, dân tộc Việt Nam. Báo chí đóng một vai trò không nhỏ trong việc tuyên truyền quyết tâm khẳng định chủ quyền biển, đảo của Nhà nước đến đông đảo quần chúng nhân dân, là cầu nối thông tin hiệu quả giữa Nhà nước và nhân dân. Nhằm tuyên truyền về quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề biển, đảo, báo chí đăng những tin bài có tính giới thiệu, phân tích về các cơ sở pháp lý có tính quan trọng như Luật Biển Việt Nam năm 2012, các văn kiện luật pháp quốc tế như công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982, bộ quy tắc ứng xử trên biển đông (COC)… Từ đó báo chí đã đóng vai trò tuyên truyền về các kiến thức mang tầm quốc tế có tác dụng quan trọng trong việc xác lập chủ quyền biển, đảo nước nhà đến với đông đảo công chúng, công chúng có thể nhận thức sâu sắc hơn về các quan điểm, hành động của Đảng và nhà nước. Việc tuyên truyền về quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề biển, đảo trên báo chí cũng xây dựng được nhận thức đồng nhất trong đại bộ phận quần chúng. Từ việc có được sự nhận thức đồng nhất của nhân dân, những quan điểm, hành động của Đảng và nhà nước sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ công chúng, từ đó tạo ra sức mạnh toàn dân trong công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc. 21
  26. 26. Bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền về quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề biển, đảo, báo chí còn đóng tuyên truyền về vị trí chiến lược của biển, đảo đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Việc xây dựng nhận thức cho công chúng về vai trò to lớn của biển, đảo cũng không kém phần quan trọng so với việc tuyên truyền về đường lối, quan điểm về biển, bảo của Đảng và nhà nước, có thể nói chỉ khi có một nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của biển, đảo công chúng mới đi đến mối quan tâm về những hành động của các cấp lãnh đạo, nhà nước trong việc bảo vệ và gìn giữ biển, đảo nước nhà. Những bài viết mang tính nghiên cứu về lịch sử biển, đảo Việt Nam được báo chí phản ánh đã cung cấp những thông tin mang tính lịch sử đến công chúng bên cạnh việc cung cấp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc còn góp phần nâng cao ý thức gìn giữ, đấu tranh chu toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu nới biển, đảo xa xôi, nhưng với những hiểu biết tình hình lịch sử biển, đảo nước nhà cũng góp phần chiến đấu bảo vệ đất nước trên mặt trận tư tưởng. Các thông tin tuyên truyền giá trị to lớn của biển, đảo đối với vị thế, và sự phát triển của quốc gia cũng thể hiện vai trò tuyên truyền quan trọng của báo chí bởi các thông tin này sẽ góp phần nâng cao ý thức về tầm quan trọng của biển, đảo trong công chúng, nhận thức tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo - một bộ phận trọng yếu, không thể tách rời khỏi quỹ đảo phát triển đi lên của một đất nước. Các thông tin trên báo chí cũng tuyên truyền về sự đồng lòng của nhân dân cả nước đối với trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nhận thức được tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân, báo chí đã tuyên truyền về sự đồng sức, đồng lòng của nhân dân cả nước trong việc xây dựng biển, đảo, đồng sức đồng lòng với những ngư dân nơi biển xa đã góp phần củng cố và nâng cao sức mạnh toàn dân trong cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra các thông tin về các chiến sĩ hải quân công tác tại các quần đảo trên khắp Việt Nam mà quan trọng hơn cả là trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa góp phần giúp những hình ảnh biển, đảo xa xôi của tổ quốc trở nên gần gũi hơn đối với công chúng. 22
  27. 27. Việc tuyên truyền về sự đồng sức đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân, về những tấm gương chiến sĩ hải quân, về cuộc sống của những người dân nơi đảo xa đang ngày đêm bám biển bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc sẽ góp phần nâng cao nhận thức của công chúng đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của cả nước. Như vậy với việc đưa cung cấp thông tin về biển đảo trên nhiều khía cạnh khác nhau, báo chí địa phương thực hiện nhiệm vụ quan trọng của mình trong việc thông tin về vấn đề biển, bảo. Nhờ có báo chí mà thông tin về biển, đảo mới có ảnh hưởng sâu rộng đến đông đảo quần chúng. 1.3.2.2 Nhiệm vụ định hƣớng dƣ luận Bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền, báo chí địa phương còn thực hiện nhiệm vụ định hướng dư luận. Bằng cách kiên trì liên tiếp khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” của Việt Nam trên các trang báo trước những hành động, lời lẽ khiêu khích của các thế lực thù địch, báo chí đã giúp định hướng, không để công chúng bị lung lay trước lý lẽ mà các thế lực thù địch đưa ra, định hướng công chúng tin tưởng vào những chứng cứ xác thực khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Ngoài ra, nhằm nâng cao sự tin tưởng và nhận thức từ phía độc giả, báo chí đã đưa ra các luận điểm phản bác mạnh mẽ trước những tuyên bố trắng trợn, đi ngược với những quy tắc về đảm bảo hoà bình, ổn định đã được ký kết của Trung Quốc. Định hướng công chúng giữ vững lòng tin tuyệt đối về chủ quyền biển, đảo nước nhà, đứng vững trước những thông tin, cáo buộc không đúng với thực tế, đi ngược lại với lịch sử của các thế lực thù địch. Vai trò định hướng công chúng của báo chí cũng được thể hiện qua những thông tin cung cấp các bằng chứng lịch sử để chứng minh cho sự thật không thể chối cãi về chủ quyền biển, đảo như cung cấp các tư liệu lịch sử, các tấm bản đồ cổ chứng minh chủ quyền đã được xác lập của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… 23
  28. 28. 1.3.3 Báo chí Cà Mau với chủ đề biển, đảo 1.3.3.1 Khái quát địa lý kinh tế xã hội Cà Mau  Vị trí địa lý Cà Mau là tỉnh ven biển ở cực nam của Việt Nam, nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Cà Mau là một vùng đất trẻ, mới được khai phá khoảng trên 300 năm. Cà Mau là mảnh đất tận cùng của tổ quốc với 3 mặt tiếp giáp với biển, phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây và phía Nam giáp với vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp với 2 tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang. Cà Mau là vùng đất thấp, thường xuyên bị ngập nước. Hiện nay đang có hiện tượng bồi lở ở cả hai phía biển Đông và Tây. Đường biển của Cà Mau dài 254 km, trong đó có 107 km bờ biển Đông và 147 km bờ biển Tây. Biển Cà Mau tiếp giáp với vùng biển các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á. Rừng Cà Mau là loại hình sinh thái đặc thù, rừng sinh thái ven biển ngập mặn được phân bố dọc ven biển với chiều dài 254 km. Bên cạnh đó, Cà Mau còn có hệ sinh thái rừng tràm nằm sâu trong lục địa ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình quy mô 35.000 ha. Diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau chiếm 77% rừng ngập mặn của vùng ĐBSCL.  Tình hình kinh tế - xã hội Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Cà Mau (GDP) năm 2013 (theo giá hiện hành) ước đạt 34.595 tỷ đồng. Trong đó: khu vực ngư, nông, lâm nghiệp đạt 12.917 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 37,3%; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 12.288 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35,5%; khu vực thương mại, dịch vụ đạt 9.390 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27,2%. Năm 2013, sản lượng thủy sản ước đạt 441,64 nghìn tấn, đạt 101,76% kế hoạch, tăng 3,57% so cùng kỳ. Trong đó: tôm 148,14 nghìn tấn, đạt 101,47% kế hoạch, tăng 5,59% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 286,08 nghìn tấn, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 155,56 nghìn tấn. 24
  29. 29. Tỉnh có 4.654 phương tiện tàu thuyền khai thác hải sản, tổng công suất trên 468.000 CV, đứng thứ 2 vùng ĐBSCL, sau tỉnh Kiên Giang, có trên 80 cửa biển lớn, nhỏ. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 1.050 triệu USD. Mặt hàng thủy sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh, năm 2013 chiếm 97,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khối lượng hàng thủy sản xuất khẩu năm 2013 đạt 94.801 tấn. Đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh có 1.095.917 thuê bao điện thoại; trong đó có 987.235 thuê bao di động và 108.682 thuê bao cố định. Số thuê bao Internet toàn tỉnh hiện nay là 49.798 thuê bao; trong đó có 25.843 thuê bao ADSL, 1.053 thuê bao FTTH và 22.902 thuê bao 3G. Cuối năm 2013 toàn tỉnh có tổng số 19.197 hộ nghèo, chiếm 6,49% tổng số hộ trên toàn tỉnh, giảm 1,75%; 12.254 hộ cận nghèo, chiếm 4,14%, giảm 0,33% so đầu năm 2013. Trong số 19.197 hộ nghèo có 144 hộ thuộc diện người có công, 2.563 hộ thuộc người dân tộc thiểu số, 1.096 hộ thuộc diện bảo trợ xã hội, còn lại 15.421 hộ thuộc hộ nghèo bình thường. 1.3.3.2 Khái lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau  Đài PT-TH Cà Mau  Đài PT – TH Cà Mau (CTV) được thành lập theo Quyết định số 353/QĐ- UBND ngày 4/4/1977 của UBND tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau) và phát sóng chính thức ngày 19/8/1977, công suất máy phát thanh 1KW do Trung Quốc sản xuất. Năm 1996 được nâng lên 10KW, máy phát hiệu Harris do Hoa Kỳ sản xuất. CTV phát sóng truyền hình màu chính thức vào ngày 19/8/1988. Hiện nay, CTV phát sóng phát thanh FM công suất 10KW thay sóng Am từ ngày 1/9/2008; kênh truyền hình CTV1 công suất 10KW phủ sóng trong toàn tỉnh Cà Mau và một số tỉnh lân cận; kênh truyền hình CTV2 công suất 5KW phủ sóng toàn tỉnh Cà Mau. Ngoài ra, CTV còn được Trung ương đầu tư máy phát hình 10KW để thu và phát các chương trình của VTV1 và đầu tư hơn 13 tỷ đồng để trang bị xe truyền 25
  30. 30. hình lưu động hoạt động từ 2/2007; tỉnh đầu tư kinh phí nhập thiết bị truyền dẫn tín hiệu đưa chương trình CTV phát trên kênh 25 mạng truyền hình cáp Sài Gòn tourist (SCTV) ngày 15/7/2008; mạng truyền hình cáp Tây Đô (TP Cần Thơ) ngày 19/8/2008. Từ ngày 30/4/2013 được Bộ Thông tin – Truyền thông cấp phép tăng thời lượng phát sóng truyền hình 24/24 giờ. Với 3 loại hình báo chí: Phát thanh, truyền hình và Website, Đài PT-TH Cà Mau luôn đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình, phản ánh kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trong năm 2013 tổng số đề tài được phát sóng trên sóng phát thanh truyền hình là 66.461 đề tài, tổng thời lượng phát sóng trên 32.010 giờ, trên website cập nhật 3.240 tin, 39 phóng sự.  Báo Cà Mau Ngày 21/6/2008, nhân kỷ niệm 83 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, Báo Cà Mau đón nhận Huân chương lao động hạng nhì. Tiền thân là báo Chiến chỉ vẻn vẹn 5-7 người, sau là Báo Minh Hải, Báo Cà Mau là Cơ quan của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Cà Mau - Tiếng nói của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Cà Mau, trực thuộc Tỉnh ủy Cà Mau. Cơ cấu tòa soạn hiện nay có 3 phòng chức năng: Phòng Tổ chức- Hành chính, Phòng Biên tập và Phòng phóng viên. Báo Cà Mau hiện có một tờ báo in, khổ 30x40 cm, 12 trang, trong đó có 4 trang in 4 màu ( trang 1, trang 6-7 và trang 12), còn lại 8 trang in 2 màu, xuất bản 4 kỳ/tuần vào các ngày (Thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bảy) và Trang Báo Cà Mau điện tử: http//www.baocamau.com.vn. Hiện nay, Báo Cà Mau có 48 cán bộ, nhân viên, trong đó 20 phóng viên, nhà báo trực tiếp sáng tạo tác phẩm báo chí, có trình độ Đại học trở lên với nhiều chuyên ngành khác nhau như: Báo chí, Ngữ Văn, Luật, Quản trị kinh doanh, Kỹ sư nông nghiệp, Kỹ sư công nghệ thông tin. Đây là đội ngũ nòng cốt thực hiện tất cả tin, bài, ảnh cho từng số báo theo định kỳ. Báo Cà Mau có 30 chuyên trang với nhiều chuyên mục luân phiên nhau trên mặt báo.  Báo ảnh Đất Mũi  Báo ảnh Đất Mũi, tiền thân là tờ tin ảnh trực thuộc Ty Văn hoá – Thông tin Minh Hải, được thành lập ngày 27/11/1979. Ngày 19/02/1990, UBND tỉnh Minh 26
  31. 31. Hải (nay là tỉnh Cà Mau) quyết định chuyển Báo ảnh Đất Mũi trực thuộc UBND tỉnh Cà Mau kể từ ngày 1/3/1990 và hoạt động cho đến nay. Trải qua 35 năm hình thành, tồn tại và phát triển, Báo ảnh Đất Mũi đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân. Hiện nay, Báo ảnh Đất Mũi là tờ báo ảnh duy nhất của các tỉnh, thành trong cả nước (chỉ Trung ương có Báo ảnh Việt Nam). Báo ảnh Đất Mũi có ban lãnh đạo là Ban biên tập, 5 phòng trực thuộc, có văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tổng số cán bộ, nhân viên 45 người, hiện có 27 người có trình độ đại học các chuyên ngành. Ngoài ra, còn có 1 hội nghề nghiệp là chi hội nhà báo với 18 hội viên. Báo ảnh Đất Mũi có 5 ấn phẩm và báo điển tử, gồm: Báo ảnh Đất Mũi chính, phát hành thứ hai hàng tuần, Báo Đất Mũi cuối tuần, phát hành thứ năm hàng tuần, Báo Đất Mũi Nguyệt san, phát hành hàng tháng, phụ trương Cơ hội vàng, phát hành hàng tháng, báo song ngữ Việt – Khmer, phát hành hàng tháng, Báo Đất Mũi điện tử (www.baoanhdatmui.com.vn). Trong các ấn phẩm trên, Báo ảnh Đất Mũi giữ vai trò tuyên truyền, phổ biến đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài tỉnh Cà Mau. Những thông tin biển đảo thường xuyên được phản ánh trên tờ báo này. 1.3.3.3 Báo chí Cà Mau với công tác truyền thông về biển, đảo Trong năm 2013, ngoài thực hiện công tác tuyên truyền các nội dung biển, đảo theo Hướng dẫn 74 của Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan thông tin đại chúng của Cà Mau còn tập trung thực hiện nhiệm vụ thông tin biển, đảo theo Kết luận số 119- KL/TU ngày 13/12/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá X) và Chương trình hành động của Tỉnh uỷ (Khoá XIII) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Trên cơ sở xác định những mặt hạn chế trong việc thực hiện Chiến lược biển tại Cà Mau như kinh tế vùng ven biển có điểm xuất phát rất thấp, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế biển, đảo; cơ cấu ngành kinh tế chủ yếu là khai thác, nuôi trồng 27
  32. 32. thuỷ sản và một vài điểm du lịch nhỏ, chưa có điều kiện để phát triển quy mô lớn; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa được đầu tư đồng bộ; kinh tế cụm đảo chưa phát triển; tình trạng sạt lở ven biển, ven sông xảy ra ngày càng nhiều đe doạ tính mạng và tài sản của nhân dân. Đồng thời, tình trạng ngư dân vi phạm vùng biển các nước trong khu vực trong khai thác thuỷ sản còn xảy ra, dù ngành chức năng đã tập trung tuyên truyền giáo dục răn đe, ngăn chặn việc hợp đồng khai thác trái phép với các nước lân cận nhưng chưa có hiệu quả. Kết luận 119 cũng đã đưa ra một số chủ trương giải pháp chỉ đạo các ngành, các cấp trong tỉnh Cà Mau thực hiện. Theo đó, Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin và Truyền thông được giao nhiệm vụ lãnh, chỉ đạo Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT - TH Cà Mau thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân với nhiều nội dung và hình thức về vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho ngư dân vùng biển về Luật Biển để hạn chế tình trạng ngư dân vi phạm vùng biển các nước trong khu vực; bảo vệ vững chức chủ quyền, an ninh biển đảo quốc gia; thông tin về đề án chuyển đổi ngành nghề cư dân ven biển để hạn chế các hình thức khai thác thuỷ sản ven bờ, huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản; cảnh báo thiên tai, đặc biệt là tình trạng sạt lở đất ven biển, ven sông … Ban Tuyên giáo Cà Mau xác định công tác tuyên truyền biển, đảo là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục của đơn vị; từ đó quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra, giám sát, đôn đốc, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện công tác tuyên truyền biển, đảo, nhất là trên các cơ quan truyền thông đại chúng của tỉnh. Theo đánh giá của Ban Tuyên giáo Cà Mau, Cà Mau có chiến lược biển, đảo riêng. Thời gian qua, các cơ quan thông tin trong tỉnh đã tuyên truyền rất tốt về biển, đảo, nội dung tuyên truyền rất sát với chiến lược biển Việt Nam nói chung, của Cà Mau nói riêng. Báo, đài thường xuyên tuyên truyền để nhân rộng các cách làm hay, các mô hình hiệu quả trong hoạt động khai thác thuỷ sản, giữ gìn và bảo vệ an ninh trên biển, cổ vũ các hoạt động tham gia giữ vững chủ quyền biển, đảo của ngư dân. 28
  33. 33. Ông Đỗ Kiến Quốc, Giám đốc Đài PT-TH Cà Mau, tự khẳng định rằng, các bài viết, chuyên trang, chuyên mục trên trên sóng phát thanh, truyền hình phản ánh khá phong phú, đa dạng, sinh động từ hình thức thể hiện đến nội dung, phân tích làm rõ những định hướng cơ bản về chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của quốc gia, tỉnh, những nhiệm vụ và giải pháp của tỉnh trong phát triển kinh tế biển đến năm 2020, kế hoạch của các sở, ngành và địa phương ven biển thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh uỷ Cà Mau. Lãnh đạo Báo Cà Mau cũng đã xác định: tuyên truyền nội dung biển, đảo là nhiệm vụ thường xuyên của Báo Cà Mau. Theo đó, Báo Cà Mau tập trung thông tin chiến lược biển quốc gia, những chủ đề biển, đảo nổi bật của Cà Mau. Báo Cà Mau đang mở rộng liên kết với các ngành có liên quan để phát huy hiệu quả truyền thông biển đảo. 1.3.3.4 Đặc điểm công chúng Cà Mau Theo số liệu Điều tra Dân số của Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, đến 31/12/2012, dân số tỉnh Cà Mau có 1.219.128 người, xếp vị trí thứ 8 và bằng 7,01% dân số vùng ĐBSCL, bằng 1,37% dân số cả nước; mật độ dân số 230 người/km2, mật độ dân số tỉnh Cà Mau thấp nhất trong các tỉnh ĐBSCL, bằng 53,34% mật độ dân số vùng ĐBSCL và bằng 86,92% mật độ dân số cả nước. Trong đó: Dân số thành thị Cà Mau 263.124 người, chiếm 21,58% dân số của tỉnh, xếp vị trí thứ 7 và chiếm 6,29% dân số thành thị vùng ĐBSCL. Tỷ lệ dân số sống ở thành thị của Cà Mau thấp hơn tỷ lệ chung của toàn vùng (toàn vùng tỷ lệ dân số sống ở thành thị 22,84%). Dân số nông thôn Cà Mau 956.004 người, chiếm 78,42% dân số của tỉnh, xếp vị trí thứ 8 và chiếm 7,22% dân số nông thôn vùng ĐBSCL. Tỷ lệ dân số sống ở nông thôn của Cà Mau cao hơn tỷ lệ chung của toàn vùng (toàn vùng tỷ lệ dân số sống ở nông thôn 77,16%). Tỷ lệ dân cư vùng biển chiếm 30% dân số toàn tỉnh. Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là 670.448 người. Cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản. Số lao động được đào tạo và có tay nghề, kỹ thuật khoảng 110.000 người, sơ cấp nghề có 30.000 người, trung học chuyên nghiệp 5.000 người, cao đẳng, đại 29
  34. 34. học, trên đại học là 6.500 người. Tỷ lệ lao động ở khu vực I (Nông – lâm – ngư) vẫn chiếm tỷ lệ cao là 74%. Giữa thu nhập, học vấn và thời gian làm việc trong các ngành có mối quan hệ với nhau. Trình độ học vấn thấp chủ yếu là làm trong nông nghiệp và nằm ở nhóm thu nhập thấp. Ở các nhóm thu nhập thấp thời gian làm việc trong nông nghiệp nhiều 55 – 57%, thời gian làm việc trong công nghiệp, xây dựng vào khoảng 15%, và dịch vụ dưới 10%. Nhưng ở nhóm thu nhập cao, thời gian làm việc trong nông nghiệp khoảng 20%, làm công nghiệp và xây dựng khoảng 25 – 30%, làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 30%. Ở Cà Mau, phần lớn thời gian làm việc là trong nông nghiệp 50%, công nghiệp, xây dựng khoảng 18%, và dịch vụ 18%. Từ những đặc điểm trên đây cho thấy, nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng Cà Mau rất cao. Tiểu kết chƣơng 1 Trên đây là những thông tin cơ bản về vấn đề biển, đảo, đặc biệt là hệ thống những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề biển, đảo, cũng như những định hướng tuyên truyền về biển đảo. Đây sẽ là cơ sở cho những phân tích, lý luận về nội dung thông tin về biển, đảo trên báo chí. Chương 1 cũng trình bày nhiệm vụ to lớn của báo chí trong công tác tuyên truyền biển, đảo. Trên cơ sở đó, sẽ tiến hành khảo sát các bài viết về biển, đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi, Đài PT-TH Cà Mau; đồng thời phân tích những ưu, khuyết điểm trong nội dung và hình thức tuyên truyền chủ đề trên các phương tiện thông tin đại chúng này. Tuyên truyền chủ đề biển đảo trên 3 cơ quan thông tin đại chúng chính của Cà Mau nằm trong dòng chảy thông tin biển đảo quốc gia với những nội dung được định hướng theo Hướng dẫn 74 của Ban Tuyên giáo Trung ương nhưng sẽ có những điểm đặc trưng riêng khi thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền những chương trình hành động và thành tựu chiến lược biển riêng của Tỉnh. Với những định hướng từ Trung ương đến Tỉnh uỷ, nội dung thông tin về biển đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau hứa hẹn sẽ 30
  35. 35. phong phú, đa dạng bởi nó bao hàm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, xã hội, du lịch… đặc thù của biển đảo Cà Mau. Đồng thời, tính chất quan trọng trong tuyên truyền biển đảo đã được lãnh đạo 3 cơ quan khẳng định trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình. Tất cả những điều trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để thông điệp biển đảo được truyền tải hiệu quả tại Cà Mau. Vậy Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau đã tận dụng những lợi thế đó như thế nào trong truyền thông về biển đảo? 31
  36. 36. CHƢƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG THỨC CHUYỂN TẢI THÔNG ĐIỆP BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CÀ MAU, BÁO ẢNH ĐẤT MŨI VÀ ĐÀI PT-TH CÀ MAU 2.1 Nội dung biển, đảo trên các loại hình báo chí Trong năm 2013, qua khảo sát, số tin bài liên quan đến chủ đề biển đảo trên Báo Cà Mau là 212, Báo ảnh Đất Mũi là 125, Đài PT-TH Cà Mau là 162. Truyền thông biển, đảo được các phương tiện truyền thông thực hiện với nội dung đa dạng, phong phú. Thông điệp biển đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau được thực hiện theo những nhóm nội dung chính gồm: - Chủ quyền biển đảo (CQBĐ) - Biến đổi khí hậu (BĐKH) - Kinh tế - An sinh xã hội (AS-XH) - Văn hóa – Du lịch (VH-DL) Tỷ lệ các tin bài phản ánh các nhóm nội dung chính trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau có thể được mô tả theo dạng biểu đồ như sau: Biều đồ 2.1: Tỷ lệ tin bài theo nội dung trên Báo Cà Mau CQBĐ BĐKH KINH TẾ ASXH VH-DL 8% 24% 26% 16% 26% 32
  37. 37. Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ tin bài theo nội dung trên Đài PT-TH Cà Mau CQBĐ BĐKH KINHTẾ ASXH VH-DL 9% 12% 41% 17% 21% Bảng biểu 2.3: Tỷ lệ tin bài theo nội dung trên Báo ảnh Đất Mũi CQBĐ BĐKH KINH TẾ ASXH VH-DL 16% 8% 40% 20% 16% 33
  38. 38. 2.1.1 Tuyến tin bài về CQBĐ Đây là nhóm nội dung chiếm tỷ lệ lớn trong thông điệp biển, đảo năm 2013 của Báo Cà Mau (thứ 2 với 24% tương đương 50 bài, biểu đồ 2.1), cao nhất đối với nội dung tuyên truyền trên Đài PT-TH Cà Mau (41%, tương đương 66 tin bài, biểu đồ 2.2) và Báo ảnh Đất Mũi (40%, 50 bài, biểu đồ 2.3). Số lượng tin bài về CQBĐ trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau cao, tập trung tuyên truyền 2 mảng là: CQBĐ quốc gia và an ninh biên giới, biển đảo Cà Mau.  Tuyến tin bài về CQBĐ quốc gia Năm 2013 là năm đầu tiên Ban lãnh đạo mới ở Bắc Kinh thi hành chính sách cứng rắn hơn, nguy hiểm hơn trong vấn đề biển đảo nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng cường quốc biển mà Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, làm cho tình hình biển Đông ngày càng căng thẳng. Đáng chú ý là Trung Quốc quyết định thành lập Uỷ ban An ninh quốc gia để thống nhất điều hành công tác an ninh biển đảo; củng cố cơ quan quản lý về biển đảo, cải tổ lực lượng chấp pháp trên biển, thành lập Cục Cảnh sát biển thuộc Bộ Công an thống nhất chỉ huy các lực lượng chấp pháp trên biển; tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của các lực lượng chấp pháp trên biển; Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc thành lập “Trung tâm nghiên cứu hải đảo”… Năm 2013, Trung Quốc không ngừng củng cố các cơ sở ở “Tam Sa”, thành lập “Đài PT-TH Tam Sa”; tổ chức các tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa… Các lực lượng chấp pháp của Trung Quốc (Hải giám, Kiểm ngư) tăng cường trấn áp, truy đuổi, đối xử thô bạo, đập phá, hành hung ngư dân Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Vụ việc hết sức nghiêm trọng là ngày 20/3/2013, tàu chấp pháp Trung Quốc đã bắn cháy cabin tàu cá QNg 96382 TS của tỉnh Quảng Ngãi tại khu vực quần đảo Hoàng Sa; ngày 20/5/2013, tàu Trung Quốc xua đuổi, đâm va gây vỡ tàu QNg 90917 TS của ngư dân Quảng Ngãi ở khu vực Nam Tri Tôn, Hoàng Sa. Mặt khác, Trung Quốc tiếp tục đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá từ 12 độ vĩ Bắc trở lên ở Biển Đông từ ngày 16/5 đến 01/8/2013, vi phạm vào vùng biển của các nước Việt Nam, Philippines. 34
  39. 39. Trước diễn biến phức tạp, căng thẳng trên biển Đông, các phương tiện thông tin đại chúng trong cả nước, trong đó có Cà Mau có những bài viết khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa, cũng như lên án thái độ ngang ngược của Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam. Trong phóng sự truyền hình “Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chủ CQBĐ” (tác giả Quách Mến, chương trình thời sự 18giờ 30 ngày 20/6/2013) khẳng định “… Ngày 23/6/1994 tại kì họp thứ 5, Quốc hội Nƣớc CHXHCN Việt Nam khóa IX đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn công ƣớc của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo: Hoàng Sa, Trƣờng Sa và chủ trƣơng giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng nhƣ các bất đồng khác liên quan đến biển Đông thông qua thƣơng lƣợng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng luật pháp quốc tế. Toàn Đảng, toàn quân và dân Cà Mau vẫn đang từng ngày, từng giờ, từng phút hƣớng về biển Đông, một lòng ủng hộ đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp trên biển Đông, kịch liệt phản đối hành động ngày càng leo thang của phía Trung Quốc, quyết đấu tranh gìn giữ hòa bình, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc”. Trên Báo ảnh Đất Mũi có bài tổng hợp “Việt Nam phản đối việc Trung Quốc đơn phương thi hành lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông” (ngày 20/5). Theo đó, bài báo dẫn nguồn “Theo Ngƣời phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lƣơng Thanh Nghị, việc Trung Quốc đơn phƣơng thi hành Lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông với phạm vi bao gồm cả một số vùng biển của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ƣớc Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, không phù hợp với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Việt Nam phản đối và coi quyết định đơn phƣơng nói trên của Trung Quốc là vô giá trị”. Báo ảnh Đất Mũi còn thông tin "Từ ngày 15/6 bắt đầu chiến dịch Kết nối biển Đông” (Thái Thanh, số ra ngày 24/6), theo đó “Đây là chiến dịch toàn cầu 35
  40. 40. nhằm vận động, kêu gọi sự đóng góp, ủng hộ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc, kiều bào Việt Nam ở nƣớc ngoài để mua thiết bị thông tin liên lạc cho ngƣ dân phục vụ thông tin liên lạc phòng chống thiên tai và góp phần bảo vệ CQBĐ”. Đồng thời Báo ảnh Đất Mũi còn đăng tải những tin bài khẳng định CQBĐ của Việt Nam như: “Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt những việc làm sai trái tại khu vực Hoàng Sa (tin mạng, số ra ngày 22/4), Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử (tin từ Báo điện tử Đảng Cộng sản, ngày 8/7). Từ năm 2006, khi chưa có Nghị quyết T.Ư 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Quân chủng Hải quân đã chủ động đề xuất Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam và Ban Tuyên giáo Trung ương cho phép Quân chủng đến từng địa phương ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo và Chủ động mời đại diện các cơ quan trung ương, các ngành, địa phương, chức sắc tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài, đại biểu 54 dân tộc anh em, các nhà doanh nghiệp... đến Trường Sa, Nhà giàn DK1. Tham gia chuyến đến Trường Sa của Quân chủng Hải quân trong năm 2013, phóng viên, cộng tác viên của Báo Cà Mau có một số bài phản ánh, phóng sự ảnh về Trường Sa như “Tự hào Trường Sa” (Nguyễn Thanh Dũng, ra ngày thứ Tư, 22/5/2013), “Đá Thị - Sơn Ca: Vững vàng nơi đầu sóng …” (tác giả Võ Thanh Quang”, số thứ Tư, 29/5), “Ấm tình biển, đảo quê hương”, (tác giả Tiến Sơn, số thứ Bảy, ngày 1/6), “Tiếng gọi Trường Sa” (tác giả Tạ Hoàng Nguyên, số thứ Hai, ngày 3/6) ghi nhận tình cảm người dân đất liền hướng về Trường Sa, những khó khăn, tinh thần trách nhiệm quên mình của cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia... Đặc biệt trong bài “Thiêng liêng Trường Sa” (số ra ngày thứ Bảy 25/5), tác giả Đỗ Thuỳ Mai đã giới thiệu một cách tổng quát về đời sống, ý chí kiên cường bảo vệ CQBĐ của người dân và chiến sĩ đang sinh sống và chiến đấu trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa “Các đảo ở Trƣờng Sa bây giờ thay đổi nhiều lắm. Không còn trơ trọi những bãi cát đá san hô, không vắng bóng cây xanh, không quá khan hiếm nƣớc ngọt nhƣ trƣớc. Ngay ở những đảo chìm hay các nhà giàn, phòng ốc cũng chu đáo, sạch sẽ, bếp ăn nấu bằng dầu, có tủ lạnh, ngoài ban công là 36
  41. 41. những vƣờn rau xanh um nhƣ lá lốt, mồng tơi, ngò, húng lủi, tía tô, cải xanh... Những tên đảo Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Côlin, Sinh Tồn Đông, Đá Tây C... tên nào cũng gợi lên những hình ảnh đẹp về cuộc sống của quân dân trên biển đảo đang ngày đêm vƣợt sóng, đạp gió giữ yên biển trời Tổ quốc ». Ông Trịnh Xuân Dũng, Tổng Biên tập Báo ảnh Đất Mũi, cho biết: Để tổ chức, thực hiện tin, bài về CQBĐ, ngoài đặt hàng cộng tác viên có điều kiện tiếp cận các điểm nóng về CQBĐ quốc gia như quần đảo Trường Sa, nhà giàn, Báo ảnh Đất Mũi thường dẫn nguồn các báo chính thống các tin, bài nội dung này. Điều này tạo sự phong phú, đầy đủ cho nội dung tuyên truyền biển, đảo trên Báo ảnh Đất Mũi. Ông Dương Thanh Hưởng, Phó Giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông, nhận xét, trong điều kiện tiếp cận các điểm nóng về CQBĐ quốc gia còn hạn chế, nhưng Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau vẫn tạo được nguồn tin, bài về nội dung này theo cách riêng, khá tốt. Khai thác văn bản luật, tin, bài từ báo khác, phân công phóng viên, đặt hàng cộng tác viên tham gia đoàn thăm Trường Sa. Có thể thấy, các cơ quan báo chí Cà Mau, trong năm 2013, vẫn không đứng ngoài cuộc việc tuyên truyền phản ánh diễn biến, tình hình tranh chấp CQBĐ, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ CQBĐ quốc gia cho người dân trong tỉnh.  Tuyến tin bài An ninh biên giới, biển đảo Cà Mau Chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các tin bài CQBĐ trên Báo Cà Mau (35 tin bài, tỷ lệ 70%), Báo ảnh Đất Mũi (33 bài, 66%), Đài PT-TH Cà Mau (45 tin bài, 82%), tuyến tin bài an ninh biên giới, biển đảo Cà Mau phản ánh khá toàn diện công tác của lực lượng biên phòng, ngư dân trong việc bảo vệ CQBĐ. Nhằm huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân hướng về biên giới, hải đảo. Trong thời gian qua, Bộ đội biên phòng Cà Mau đã tích cực tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, giúp đỡ nhân dân khu vực biên giới xoá đói, giảm nghèo, xoá mù chữ, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; chủ động đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các loại tội phạm trên biên giới, đặc biệt là tội phạm buôn bán ma túy; bắt cóc trẻ em và mua bán người, góp phần quan trọng cùng các lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới biển của tỉnh. 37
  42. 42. Các hoạt động tuyến sau hướng về biên giới, hải đảo; phong trào nhận kết nghĩa, đỡ đầu các xã, thị trấn và các đồn biên phòng đã được cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các địa phương quan tâm và tổ chức phối hợp thực hiện ngày càng hiệu quả, tiêu biểu là: Cuộc vận động "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo". Và hiện nay đơn vị đang đẩy mạnh việc thực hiện Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng nông thôn mới. Cùng với những mặt công tác đó, trong phóng sự phát thanh “Bảo vệ biên giới sức mạnh từ nhân dân” (Lê Khoa, phát ngày 24/5) đã đề cập rất cụ thể những công việc mà lực lượng bộ đội biên phòng Cà Mau trong công tác bảo vệ giữ vững an ninh biên giới, CQBĐ. “Thời gian qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã triển khai đồng bộ các biện pháp công tác Biên phòng nắm chắc tình hình trên biển. Duy trì thực hiện tốt quy chế phối hợp với vùng 5 Hải quân, vùng Cảnh sát biển 4, Hải đoàn BP 28 và các ngành chức năng trong trao đổi thông tin, thông báo tình hình, điều tra, xác minh, xử lý kịp thời các vụ việc xảy ra, không để bị động bất ngờ. Phối hợp với các lực lƣợng tham mƣu cho UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch về huy động nhân lực, tàu thuyền và phƣơng tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của nƣớc CHXHCN Việt Nam”. Hay “Đến nay, các đồn biên phòng trong tỉnh xây dựng đƣợc 10 đội tàu/104 phƣơng tiện/892 thuyền viên. Các đội tàu đã phát hiện và thông báo cho các đồn biên phòng 255 nguồn tin có giá trị; phối hợp bắt giữ 4 vụ, 9 tàu, 2 xà lan quốc tịch Thái Lan và Indonesia neo đậu, nhập cảnh trái phép, đánh bắt trộm thuỷ hải sản”, (Luật biển đến với ngư dân – Lê Khoa, Báo Cà Mau ra ngày thứ Hai 9/9). Điểm nổi bật trong công tác bảo vệ CQBĐ ở Cà Mau là tỉnh đã xây dựng được “những cột mốc sống chủ quyền trên biển”, đó là những ngư dân luôn cảnh giác trước sự xâm nhập trái phép vùng biển nước ta của các tàu khai thác thuỷ sản nước ngoài. Điều này đã được các phóng viên, cộng tác viên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau ghi nhận trong rất nhiều bài viết, phóng sự truyền hình, phát thanh. 38

×