Diese Präsentation wurde erfolgreich gemeldet.
Wir verwenden Ihre LinkedIn Profilangaben und Informationen zu Ihren Aktivitäten, um Anzeigen zu personalisieren und Ihnen relevantere Inhalte anzuzeigen. Sie können Ihre Anzeigeneinstellungen jederzeit ändern.

Tim hieu ve cai cach bo may hanh chinh nha nuoc tai luan van viet

Tìm hiểu về cải cách bộ máy hành chính nhà nước tại Luận Văn Việt
#luan_van_viet, #luận_văn_việt, #làm_thuê_luận_án_tiến_sĩ, #làm_đồ_án_thuê_cntt, #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp, #lvv , #làm_luận_văn_tốt_nghiệp_đại_học

Xem thêm: https://luanvanviet.com/ly-luan-chung-ve-cai-cach-bo-may-hanh-chinh-nha-nuoc/

  • Loggen Sie sich ein, um Kommentare anzuzeigen.

  • Gehören Sie zu den Ersten, denen das gefällt!

Tim hieu ve cai cach bo may hanh chinh nha nuoc tai luan van viet

  1. 1. TÌM HIỂU VỀ CẢI CÁCH BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI LUẬN VĂN VIỆT Cải cách bộ máy hành chính nhà nước là gì? Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí cải cách hành chính nhà nước là gì? Nội dung, nguyên tắc và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cải cách hành chính nhà nước là gì? Tất cả những băn khoăn của bạn sẽ được giải đáp trong bài viết này của Luận Văn Việt chuyên làm chuyên đề tốt nghiệp bộ máy hành chính nhà nước 1. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước 1.1. Khái niệm bộ máy hành chính nhà nước Theo Từ điển Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể hệ thống các cơ quan chấp hành và điều hành lập ra để quản lý toàn diện hoặc quản lý ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Bộ máy hành chính thường là bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ [45, tr 82]. Theo, Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính thì bộ máy hành chính nhà nước là “hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất (Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ…và ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng…của Ủy ban nhân dân), có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định rõ ràng, được tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt, điều phối, kiểm tra…để thực hiện quyền hành pháp và quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội của một quốc gia”[59, tr 14]. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất của bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa
  2. 2. phương được lập ra để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. 1.2. Khái niệm cải cách hành chính Đứng trên góc độ hành chính học, việc nghiên cứu thuật ngữ cải cách hành chính trước hết phải được bắt đầu từ khái niệm “cải cách”. Cải cách có nghĩa là “sửa đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan”[41, tr 208]; hay là “sự sửa đổi căn bản từng phần, từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành”[38, tr 58]. Trên cơ sở khái niệm cải cách, đã có nhiều khái niệm về cải cách hành chính được đưa ra như sau: “Cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực và hiệu quả quản lý và chất lượng các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hoá) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước từ việc: lập kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; thông tin; và đánh giá. Cũng có thể hiểu cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước”[22, tr1]. Có những học giả đã đưa ra khái niệm theo hướng nhấn mạnh kế hoạch, tính mục tiêu, tính tiến bộ và những nỗ lực để cải cách hành chính. Chẳng hạn, tác giả Gerald E Caiden cho rằng: “Cải cách hành chính là sự tác động nhân tạo của việc chuyển đổi hành chính chống lại sự kháng cự”[61, tr 1]. Một số tác giả khác lại nhấn mạnh việc nâng cao hiệu suất, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới. Họ cho rằng: “cải cách hành chính là quá trình lâu dài và liên tục nhằm nâng cao hiệu suất hành chính, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong phạm vi quản lý của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp cũng như tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước”[56, tr 49]. Khi đi sâu nghiên cứu về nội dung cải cách nền hành chính, một số tác giả cho rằng: “cải cách hành chính đề cập đến những thay đổi trong toàn bộ hệ thống hành chính công, nó bao gồm toàn bộ việc tổ chức lại các bộ, xác định nhiệm vụ và chức năng của
  3. 3. các đơn vị hành chính, cải tiến các phương thức và thủ tục, đào tạo cán bộ…; Cải tiến sự phối hợp ở cấp cao hơn của chính phủ. Mọi sự cải tiến cơ cấu, thủ tục, năng lực và động cơ của cán bộ với mục đích nâng cao năng lực quản lý và tổ chức của các tổ chức công cũng được xem là cải cách hành chính theo nghĩa này”[42, tr 43]. Trong Từ điển hành chính, “Cải cách hành chính là hệ thống những chủ trương, biện pháp tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính cơ bản và có hệ thống nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền hành chính công, nền hành chính quốc gia) về các mặt: Thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, chế độ công vụ, quy chế công chức, năng lực, trình độ, phẩm chất phục vụ của đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy đó”[43, tr 31]. Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cải cách hành chính và ở những nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau có cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, trên cơ sở những khái niệm đã nêu có thể thấy rõ sự thống nhất của chúng trên một số nội dung sau: Cải cách hành chính là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu nhất định nhưng không làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính mà là đổi mới, hoàn thiện để hệ thống hành chính hoạt động hiệu quả hơn. Cải cách hành chính hướng tới sự điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước. Cải cách hành chính nhà nước không chỉ tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới. Cải cách hành chính không phải là cải cách chế độ chính trị, kinh tế – xã hội mà là quá trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến đổi kinh tế – xã hội. Từ các khái niệm và cách nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau có thể tổng kết lại như sau: Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Hiện tại, Luận Văn Việt đang cung cấp nhận làm báo cáo thuê , dịch vụ viết tiểu luận , hỗ trợ spss , lam thue assignment… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé! 1.3. Khái niệm cải cách bộ máy hành chính nhà nước
  4. 4. Trên cơ sở nghiên cứu khoa học hành chính, đã có nhiều quan điểm về cải cách bộ máy hành chính được đưa ra như sau: “Cải cách bộ máy hành chính nhằm tạo sự thích ứng với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước phải tăng cường tính tập trung thống nhất quản lý của Chính phủ, cơ quan nhà nước ở trung ương trên những ngành, lĩnh vực, vấn đề cơ bản, chủ yếu. Đồng thời, phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, kết hợp tốt quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ”[57, tr 256]. Có tác giả nhấn mạnh rằng: “Cải cách bộ máy hành chính là sự đổi mới quan trọng về vai trò, chức năng, trách nhiệm của tổ chức, bộ máy chính phủ, các bộ và cơ quan hành chính các cấp địa phương cho phù hợp với cơ chế mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[34, tr152]. “Cải cách bộ máy hành chính là bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ; điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; cải cách bộ máy chính quyền địa phương; cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp; thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính”[5, tr 449]. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Cải cách bộ máy hành chính nhà nước có thể được hiểu là quá trình thay đổi, điều chỉnh, bố trí lại bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chính quyền địa phương các cấp) đáp ứng yêu cầu thực tế khách quan”. 2. Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí cải cách bộ máy hành chính nhà nước 2.1. Mục tiêu Gọn nhẹ, có nghĩa là hợp lý, không quá lớn, chỉ duy trì các cơ quan hành chính cảm thấy cần thiết; kiên quyết xóa bỏ những cơ quan không cần thiết; có thể sáp nhập, có thể xóa bỏ đầu mối trung gian cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ và tạo sự khó khăn cho cấp dưới. Hợp lý, có nghĩa là bộ máy có sự cân bằng, phù hợp, cân đối, không lãng phí, điều quan trọng bộ máy hành chính phải đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ và làm tròn trách nhiệm. Hiệu quả, có nghĩa là hoàn thành tốt kế hoạch đã quy định hoặc hoàn thiện tốt nhiệm vụ, không lãng phí nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Trong sạch, có nghĩa là bộ máy không có tình trạng quan liêu, tham nhũng, hối lộ, minh bạch, rõ ràng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, không che dấu; hoạt động theo nguyên tắc công khai và có thể kiểm tra được mọi lúc, mọi nơi (Ngoại trừ các công việc
  5. 5. liên quan đến bí mật và sự ổn định của quốc gia), nghĩa là mọi chính sách, kế hoạch, chương trình cũng như những văn bản pháp luật phải được tổ chức phổ biến cho nhân dân và mọi hoạt động của nhà nước phải được giải thích, trình bày nguyên nhân một cách hợp lý. 2.2. Yêu cầu – Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân chủ là yêu cầu, là một đòi hỏi khách quan đối với bất cứ nền hành chính hiện đại nào trên thế giới; không có dân chủ hay mất dân chủ thì không thể phát triển kinh tế-xã hội và không thể xây dựng và củng cố nền hành chính với tư cách là yếu tố vô cùng quan trọng trong hệ thống chính trị-kinh tế-xã hội. Đảng đã khẳng định: “Nhà nước dân chủ nhân dân của chúng ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Kiện toàn nhà nước dân chủ nhân dân phải gắn liền với việc nâng cao quyền làm chủ của dân và tất cả vì lợi ích của dân”[109, tr 59]. Nền hành chính hiện đại là nền hành chính phục vụ, nền hành chính đáp ứng các yêu cầu của một xã hội dân sự. Do vậy, nền hành chính đó cần phải được củng cố trên nguyên tắc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân chủ là hình thức nhà nước, trong đó dân chủ phải thể hiện tính kỷ cương và trật tự; không thể có dân chủ “vô chính phủ”, vì dân chủ mà không trong khuôn khổ nhất định thì về thực chất là sự hỗn độn, vô trật tự mà điều này trái với yêu cầu khách quan về sự ổn định và phát triển của chính các quan hệ kinh tế-xã hội. Vấn đề đặt ra là cần tổ chức và hoạt động bộ máy hành chính nhà nước như thế nào để vừa đảm bảo bản chất nhân dân của Nhà nước, vừa phát huy được tiềm năng trí tuệ và công sức của nhân dân lại vừa đảm bảo, tính tập trung thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước. Đó cũng là điều có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước hiện nay. – Xây dựng bộ máy hành chính nhà nước thích ứng với nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, Nhà nước đóng vai trò là người trực tiếp tổ chức điều hành nền sản xuất xã hội. Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người nắm quyền lực công; vừa thực hiện vai trò quản lý kinh tế vừa là nhà kinh doanh. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò, chức năng của nhà nước đã thay đổi một cách căn bản. Bản chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hoạt động tự do, tự định đoạt trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể độc lập trong kinh doanh. Do vậy, Nhà nước với tư cách là người nắm quyền lực công phải đóng vai trò trọng tài, duy trì trật tự theo luật pháp để cho các hoạt động kinh tế-xã hội được vận hành một cách tự do, an toàn và đạt hiệu quả. Và từ vai trò, chức năng đó của Nhà nước đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng tổ chức và các nguyên tắc hoạt
  6. 6. động của bộ máy hành chính nhà nước cần phải phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong cơ chế kinh tế thị trường. Đảng chỉ rõ: “…Chúng ta phải chú ý củng cố hệ thống hành chính nhà nước theo hướng cơ quan hành chính cấp trung ương gọn nhẹ và thực hiện vai trò quản lý vĩ mô là chính, làm cho cơ quan hành chính địa phương có khả năng và năng lực hơn nữa trong việc tổ chức điều hành”[109, tr 61]. – Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều cần thiết nhất của nhiều quốc gia hiện nay là phải cải cách chế độ phân chia cấp quản lý, cần phải giao quyền và trách nhiệm giải quyết vấn đề cho từng cấp một cách rõ ràng, nhất định. Đồng thời, cần phải có thể thức phối hợp chặt chẽ để phát triển quyền làm chủ của từng cấp trong việc thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình. Chúng ta có thể nhận thức được rằng về mặt cơ cấu tổ chức, chính quyền nhà nước là khối thống nhất nhưng không phải là một thực thể đơn lẻ. Sự phân chia thành các cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước là yêu cầu khách quan xuất phát từ phân tầng các phạm vi lợi ích của xã hội, trong đó có lợi ích toàn quốc, toàn dân tộc, lợi ích các địa phương và vùng lãnh thổ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Nguyên tắc này đòi hỏi đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực nhà nước vào chính quyền trung ương đồng thời phát huy mạnh mẽ tính chủ động, độc lập, sáng tạo của chính quyền địa phương. Để thực hiện nguyên tắc này, Chính phủ Lào cần tiếp tục được củng cố tổ chức một cách hợp lý, đảm bảo có một chính phủ mạnh với hiệu lực quản lý thông suốt từ trung ương đến cơ sở, tương xứng với vị trí, vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của đất nước. Các cơ quan của Chính phủ (bộ, cơ quan ngang bộ) phải đủ năng lực quản lý một cách toàn diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, mỗi cơ quan phải là đầu mối đắc lực giúp Chính phủ thống nhất quản lý thông suốt đối với các ngành các cấp, trên phạm vi cả nước về lĩnh vực liên quan. 2.3. Tiêu chí Một là, tiêu chí về cơ cấu. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước cần phải điều chỉnh và bố trí lại cơ cấu một cách hợp lý. Tuy nhiên trong quá trình cải cách bộ máy hành chính nhà nước khó có thể xác định được chính xác về số lượng cơ cấu: ví dụ ở Trung ương cần có bao nhiêu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; địa phương cần có bao nhiêu sở, cơ quan tương dương. Trong cải cách bộ máy đôi khi về số lượng có thể tăng lên, có thể giảm đi nhưng phải phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước đem lại hiệu quả cao. Hai là, tiêu chí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được quy định cụ thể rõ ràng, đầy đủ; đảm bảo tốt nhiệm vụ, trách nhiệm cá nhân, tổ chức được phát huy hiệu quả; tránh tình trạng một cơ quan
  7. 7. cấp dưới đặt dưới sự lãnh đạo của hai cơ quan cấp trên, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm trực tiếp. Ba là, tiêu chí về phân cấp, phối hợp phải được quy định rõ ràng trong văn bản pháp luật; phân định rõ thẩm quyền của trung ương với địa phương, quy định cụ thể, đầy đủ về công việc nào trung ương có quyền quyết định, công việc nào địa phương có quyền quyết định và công việc nào giữa trung ương và địa phương phối hợp thực hiện. Cần có cơ chế phối hợp nhuần nhuyễn ngành dọc và ngành ngang. Bốn là, tiêu chí về mức độ đưa công nghệ hiện đại vào phục vụ nhân dân (xây dựng chính phủ điện tử), các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở có mạng lưới điện tử đảm bảo, có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết trong việc triển khai chương trình chính phủ điện tử với sự tham gia tích cực của người dân, xây dựng được môi trường công dân điện tử. #luan_van_viet, #luận_văn_việt, #làm_thuê_luận_án_tiến_sĩ, #làm_đồ_án_thuê_cntt, #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp, #lvv , #làm_luận_văn_tốt_nghiệp_đại_học Xem thêm: https://luanvanviet.com/ly-luan-chung-ve-cai-cach-bo-may-hanh-chinh-nha- nuoc/

×